Dốc lòng, dốc sức

đáp ứng mọi yêu cầu của chiến dịch Điện Biên Phủ

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đi vào lịch sử dân tộc như bản hùng ca bất tử "Chín năm làm một Điện Biên/Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng". Vào những năm tháng hào hùng và gian khổ ấy, cùng với đồng bào, chiến sĩ cả nước, quân và dân tỉnh Ninh Bình đã giành mọi nguồn lực, công sức đóng góp cho chiến dịch Điện Biên.

Bài và ảnh: VĂN LÚA-XUÂN TRƯỜNG - Trình bày: TRẦN LAM

Thực hiện chủ trương chiến lược của Trung ương, chỉ thị, nghị quyết của Liên khu 3 và của Tỉnh ủy, quân và dân Ninh Bình vừa đẩy mạnh tiến công địch cả về quân sự, chính trị và binh vận; vừa xây dựng, củng cố lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu; đồng thời dốc sức cung cấp kịp thời sức người, sức của cho Mặt trận Điện Biên Phủ.

Ngày 20/1/1954, nhằm đẩy mạnh mọi hoạt động đánh địch trong tỉnh phối hợp với các chiến trường, nhất là chiến trường chính Điện Biên Phủ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình ra nghị quyết nêu rõ 6 nhiệm vụ cụ thể của toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân Ninh Bình trong năm 1954, đó là: Tích cực tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đánh mạnh bọn địa phương quân, lính dõng, tích cực và chủ động chống phá càn nhỏ, phát triển chiến tranh du kích; mở rộng các khu du kích, củng cố thế liên hoàn giữa các khu du kích của huyện, chú trọng vùng đông giáo dân, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân chống áp bức bóc lột; vận động lính ngụy bỏ ngũ trở về, phát triển phong trào đào ngũ, đòi giải ngũ, đẩy mạnh phong trào đòi chồng con, chống bắt lính, tích cực chống khối ngụy binh; củng cố bộ đội địa phương tỉnh, huyện, du kích các vùng tự do và tạm chiếm; sẵn sàng phục vụ mọi yêu cầu của nhiệm vụ Đông Xuân 1953-1954 của toàn quốc, bảo đảm cho chiến trường chính đánh thắng; tích cực vận động tòng quân, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, đẩy mạnh công tác tài chính, tiết kiệm.

Thiết thực góp phần tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Tỉnh đội Ninh Bình cùng các cấp ủy, chính quyền địa phương dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Ninh Bình động viên, tổ chức và chỉ đạo quân, dân trong tỉnh dồn sức thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng lúc này: Ra sức phục vụ tiền tuyến chiến thắng và tận dụng thời cơ tướng tá Pháp-Mỹ cùng hầu hết quân cơ động của chúng đang tập trung vào chiến trường Điện Biên Phủ, tích cực tiến công các sắc lính địa phương của địch, giải phóng quê hương.

Ngay từ cuối năm 1953, nhân dân và các lực lượng vũ trang Ninh Bình hăng hái tham gia công cuộc chuẩn bị phục vụ chiến dịch Điện Biên. Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Ninh Bình lập Ban cung cấp mặt trận do một Tỉnh ủy viên, ủy viên Ban kháng chiến hành chính tỉnh làm trưởng ban; Ban cung cấp mặt trận các huyện cũng được thành lập.

Nhân dân và dân quân du kích các dân tộc thuộc các huyện vùng tự do Nho Quan, Gia Viễn, Gia Khánh tham gia nhiều công sức làm lán trại, kho tàng, xây dựng và bảo vệ Binh trạm tiền phương số 1 của Tổng cục cung cấp đặt tại Nho Quan. Trên dọc đường 59, đường 12, các “Quán quân nhân” có từ chiến dịch Quang Trung (5/1951), Hòa Bình (11/1951-2/1952) do phụ nữ lập ra lại xuất hiện, phục vụ đắc lực bộ đội, dân công trên đường tiến ra mặt trận.

(Ảnh: Tư liệu Thư viện tỉnh Ninh Bình)

(Ảnh: Tư liệu Thư viện tỉnh Ninh Bình)

Lực lượng vận tải chuyên nghiệp của tỉnh được củng cố mở rộng thêm nhiều. Đến đầu năm 1954, số lượng và chủng loại phương tiện vận tải phục vụ kháng chiến trong tỉnh và phục vụ mặt trận Điện Biên Phủ tăng gấp rưỡi các năm trước, bao gồm hơn 500 chiếc thuyền nan, thuyền gỗ lớn nhỏ, hơn 400 xe bò, xe ngựa, hơn 200 xe đạp thồ, 3 xe ô-tô tải hàng và rất nhiều xe ba gác. Dọc tuyến đường Chi Nê-Bãi Khoai Hòa Bình-Suối Rút, lực lượng vận tải bằng xe bò, xe ngựa, xe đạp thồ cùng hoà với các đoàn vận tải thuộc các địa phương khác đi về, ngược xuôi dồn dập trong suốt thời gian chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Hàng chục nghìn dân công Ninh Bình được động viên, tổ chức đi phục vụ chiến dịch, ngày đêm gánh gạo, mang vác vũ khí, đạn dược, thuốc men lên Điện Biên Phủ tiếp tế cho bộ đội... Các đội xe đạp thồ của các huyện vùng tự do và cả ở vùng tạm bị chiếm hối hả vận chuyển gạo từ Binh trạm tiền phương số 1 ở huyện Nho Quan lên tận chân dốc đèo Pha Đin. Định mức thồ 70kg một xe lúc đầu liên tục bị phá vỡ. Quá trình vận chuyển, đoàn xe đạp thồ Ninh Bình đạt kỷ lục bình quân 150kg. Khi bộ đội tiến công mạnh quân địch trong cứ điểm Điện Biên Phủ, đoàn xe đạp thồ của Ninh Bình lại làm thêm nhiệm vụ chuyển thương binh về hậu phương.

Để bảo đảm cung cấp kịp thời gạo cho bộ đội, dân công chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở mặt trận, Ninh Bình còn huy động hàng trăm thợ lên binh trạm tiền phương đóng cối xay, làm cối giã gạo, nhiều người mang cả cối xay của nhà mình đi phục vụ tiền tuyến. Công việc huy động gạo cho mặt trận được các ban cung cấp tỉnh, huyện chỉ đạo tiến hành ráo riết, khẩn trương. Nhân dân lương-giáo từ vùng tự do đến vùng tạm bị chiếm lâu ngày như Yên Khánh, Kim Sơn đều tự nguyện đóng góp; khi có lệnh của cấp trên, chỉ trong 24 tiếng đồng hồ, Ninh Bình huy động được 600 tấn gạo đưa ra mặt trận.

Vừa dốc sức phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân Ninh Bình vừa tận dụng thời cơ quân ta đánh lớn, thắng lớn ở Mặt trận Điện Biên Phủ và ở mặt trận vùng sau lưng địch, liên tục tiến công làm thất bại mọi cố gắng cuối cùng của địch trên địa bàn của tỉnh.

Phong trào tòng quân diễn ra sôi nổi, hàng nghìn thanh niên hăm hở ra trận giết giặc lập công. Từ tháng 2 đến tháng 4/1954, toàn tỉnh có 3.716 thanh niên nhập ngũ; trong đó, có 1.800 người được bổ sung vào các đơn vị bộ đội chủ lực của Bộ, 950 người vào bộ đội chủ lực Liên khu và 966 người vào bộ đội địa phương tỉnh, huyện.

Vừa dốc sức phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân Ninh Bình vừa tận dụng thời cơ quân ta đánh lớn, thắng lớn ở Mặt trận Điện Biên Phủ và ở mặt trận vùng sau lưng địch, liên tục tiến công làm thất bại mọi cố gắng cuối cùng của địch trên địa bàn của tỉnh. Tháng 4/1954, bộ đội địa phương và dân quân du kích trong tỉnh đánh địch nhiều trận, diệt 121 tên, phá hủy 5 xe tăng, 17 xe cam nhông, 6 khẩu pháo và súng máy.

Hiện vật phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: Tư liệu Thư viện tỉnh Ninh Bình)

Hiện vật phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: Tư liệu Thư viện tỉnh Ninh Bình)

Kết hợp với tiến công quân sự, ngay từ đầu năm 1954, nhất là từ ngày 19/3/1954 mở đầu hai tháng “khuyếch trương chiến thắng”, quân và dân Ninh Bình đẩy mạnh tiến công địch về chính trị bằng công tác vận động binh lính ngụy đào-rã ngũ, ra hàng hoặc làm nội ứng cho ta diệt đồn, phá bốt; đồng thời vận động các gia đình ngụy binh tham gia phong trào đấu tranh đòi chồng, con đi lính trở về, vận động và tổ chức phong trào toàn dân chống địch bắt lính. Đến trước ngày địch rút chạy khỏi địa bàn, tỉnh đã tuyên truyền, giáo dục, vận động được 1.071 ngụy binh đào ngũ, làm binh biến để rã ngũ và ra hàng, đấu tranh đòi lại và giữ được 723 thanh niên khỏi phải đi lính cho địch.

Ngày 7/5/1954, quân ta giành toàn thắng trên Mặt trận Điện Biên Phủ. Hòa cùng niềm vui chiến thắng với cả nước, quân và dân Ninh Bình, tiêu biểu là quân, dân huyện Gia Viễn có nhiều hình thức hoạt động tuyên truyền, cổ động thắng lợi to lớn của cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954, đặc biệt là chiến thắng Điện Biên Phủ như: dựng tượng đài chiến thắng ở trung tâm các xã và huyện lỵ, kẻ vẽ hàng nghìn khẩu hiệu, tranh cổ động, tổ chức hàng trăm nhóm phát thanh lưu động tuyên truyền thắng lợi cả quân sự và ngoại giao... Tiếp đó, từ ngày 25/5/1954, khắp các làng xã trong huyện Gia Viễn hân hoan, nhộn nhịp đón chào bộ đội, dân công từ Mặt trận Điện Biên Phủ chiến thắng trở về.

Dốc lòng, dốc sức đáp ứng mọi yêu cầu của chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến đấu bảo vệ vùng tự do, giải phóng vùng địch tạm chiếm, quân và dân Ninh Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ hoàn thành tốt các nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, củng cố hậu phương... đóng góp vào chiến thắng của quân dân cả nước trong chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử.

Quê hương được giải phóng, quân và dân Ninh Bình tưng bừng, phấn khởi, tin tưởng chuyển sang thực hiện nhiệm vụ chiến lược do Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đề ra trong giai đoạn mới, cùng quân, dân cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và đấu tranh giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.

Hiện vật phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: Tư liệu Thư viện tỉnh Ninh Bình)

Hiện vật phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: Tư liệu Thư viện tỉnh Ninh Bình)

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của toàn dân tộc chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, Ninh Bình có hơn 7 năm (từ 23/3/1947-30/6/1954) trở thành chiến trường nóng bỏng, đọ sức quyết liệt giữa ta và địch. Tại đây, địch tập trung những đơn vị tinh nhuệ, có trang bị vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại, mở những chiến dịch quy mô lớn, càn quét, tàn sát dã man nhằm đè bẹp ý chí chiến đấu của nhân dân ta. Cũng nơi đây, diễn ra cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa quân và dân Ninh Bình với các lực lượng phản động, thù địch và các đảng phái phản cách mạng, nhất là thế lực phản động đội lốt Thiên chúa giáo.

Kết thúc cuộc kháng chiến, địch đã trút hàng trăm tấn bom, đạn đại bác xuống đất Ninh Bình, đốt cháy 27.513 ngôi nhà, làm chết 2.279 người, 1.362 người bị thương, 18.926 người bị bắt, hàng chục nghìn tấn thóc, gạo bị cướp phá và đốt.

Dốc lòng, dốc sức đáp ứng mọi yêu cầu của chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến đấu bảo vệ vùng tự do, giải phóng vùng địch tạm chiếm, quân và dân Ninh Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ hoàn thành tốt các nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, củng cố hậu phương... đóng góp vào chiến thắng của quân dân cả nước trong chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử.

Biến căm thù thành sức mạnh, quân và dân Ninh Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng đoàn kết đứng lên chiến đấu kiên cường, dũng cảm, đánh hơn 3.283 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 11.743 tên địch, gọi ra hàng 506 lính Âu-Phi và 7.046 lính ngụy, bắt 2.537 tên, thu 2.353 súng các loại, 32 xe quân sự và phá hủy 300 xe cơ giới. Mặt khác, quân và dân Ninh Bình trực tiếp phục vụ bộ đội chủ lực tiến hành 3 chiến dịch đánh địch tại địa phương (Vạn Thắng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung) và tham gia tích cực phục vụ 3 chiến dịch tiến công địch trên chiến trường Hòa Bình, Tây Bắc và Điện Biên Phủ lịch sử. Ninh Bình huy động 129.828 lượt người đi dân công phục vụ chiến dịch thời gian ngắn và dài hạn.

Trong quá trình chiến đấu và phục vụ chiến đấu, quân và dân Ninh Bình được Quốc hội, Chính phủ tặng thưởng 11.677 Huân chương, Huy chương các loại và 3.426 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, trong đó các lực lượng vũ trang địa phương được thưởng 65 Huân chương Quân công, Chiến công; 1.446 Huân chương Chiến thắng các loại; 1 chiến sĩ thi đua toàn quân, 43 chiến sĩ thi đua Liên khu và tỉnh. Đặc biệt, có 1 huyện, 25 xã và 2 cá nhân sau này được Chủ tịch nước tuyên dương Danh hiệu: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (thời kỳ chống Pháp).