Trước những biến đổi mạnh mẽ của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được kỳ vọng sẽ giúp Quốc hội nâng cao chất lượng lập pháp, giám sát; tạo “đà mới, thế mới”, kiến tạo không gian phát triển mới cho đất nước bứt phá.
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã có chia sẻ với Báo Nhân Dân về những kết quả nổi bật, vai trò của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đối với hoạt động lập pháp, cũng như kỳ vọng cho chặng đường xây dựng Quốc hội số trong thời gian tới.
Năm 2025 – năm “đặt nền và tăng tốc” của Quốc hội số
Phóng viên: Nhìn lại năm 2025, ông đánh giá thế nào về những kết quả nổi bật của Quốc hội trong thúc đẩy chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ vào hoạt động lập pháp?
Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội: Năm 2025 có thể coi là năm “đặt nền và tăng tốc” của Quốc hội số.
Trước hết, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã củng cố khung quản trị: ban hành định hướng xây dựng, phát triển Quốc hội số giai đoạn 2024–2026, định hướng 2030; thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi số; phê duyệt Đề án chuyển đổi số giai đoạn 2025–2030 để triển khai bài bản, toàn diện và minh bạch, một cách bền vững hơn.
Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và đại biểu thực hiện nghi thức khai trương Nền tảng “Bình dân học vụ số-Quốc hội số”.
Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và đại biểu thực hiện nghi thức khai trương Nền tảng “Bình dân học vụ số-Quốc hội số”.
Thứ hai, chuyển đổi số đi thẳng vào “lõi” lập pháp: Số hóa hồ sơ dự án luật, tài liệu kỳ họp; nâng khả năng tra cứu, làm việc mọi lúc mọi nơi; giảm mạnh tài liệu giấy. Việc triển khai ứng dụng “Quốc hội 2.0” giúp đại biểu quản lý tài liệu, tiếp cận thông tin, từ đó tăng chất lượng góp ý và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan.
Thứ ba, khối lượng lập pháp rất lớn ở Kỳ họp thứ 10 đặt yêu cầu “nhanh mà không ẩu”. Nền tảng số đã hỗ trợ giữ kỷ luật quy trình, tăng khả năng giải trình-tiếp thu-chỉnh lý, hạn chế bỏ sót và nâng tính minh bạch.
Điểm đáng quý là Quốc hội làm có trụ cột: Pháp lý, nhân lực, dữ liệu, công nghệ; hướng tới hạ tầng số, chữ ký số và văn phòng không giấy.
Quốc hội đã thông qua Luật Chuyển đổi số, tạo lập khung pháp lý thống nhất cho tiến trình xây dựng quốc gia số. (Ảnh: TTXVN)
Quốc hội đã thông qua Luật Chuyển đổi số, tạo lập khung pháp lý thống nhất cho tiến trình xây dựng quốc gia số. (Ảnh: TTXVN)
Nhìn tổng thể, kết quả đó phù hợp tinh thần Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Nâng năng lực thể chế hóa chủ trương thành pháp luật khả thi; nói đi đôi với làm, làm ra kết quả cụ thể.
Phóng viên: Việc ứng dụng các nền tảng số, dữ liệu lớn… đã tác động ra sao đến chất lượng xây dựng luật, cũng như hiệu quả các phiên chất vấn và thảo luận tại nghị trường, thưa ông?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Nền tảng số và dữ liệu lớn giúp lập pháp chuyển từ “đánh giá cảm tính” sang “đánh giá dựa trên bằng chứng”. Khi hồ sơ dự án luật, văn bản liên quan, phản ánh của cử tri được số hóa và tổ chức theo dữ liệu, đại biểu đối chiếu nhanh, phát hiện chồng chéo, mâu thuẫn, từ đó góp ý đi thẳng vào điểm nghẽn.
Về kỹ thuật lập pháp, dữ liệu tạo “ký ức thể chế”: lưu vết lịch sử chính sách và thực thi, hỗ trợ tổng kết, so sánh phương án và thiết kế quy định chuyển tiếp; qua đó giảm sửa đổi chắp vá.
Ở nghị trường, dữ liệu làm chất vấn “đúng địa chỉ”: Đại biểu có thể dùng con số, tiến độ cam kết, mức độ thực hiện để truy vấn trách nhiệm; còn cơ quan trả lời buộc phải trả lời bằng kế hoạch, nguồn lực và thời hạn. Tài liệu điện tử và thư viện số giúp thảo luận mạch lạc hơn vì mọi người cùng tiếp cận một hệ quy chiếu thông tin thống nhất.
Đặc biệt, nền tảng số mở rộng kênh tương tác với nhân dân: tổng hợp ý kiến nhanh hơn, phản hồi kịp thời hơn, góp phần đo đếm hiệu quả chính sách từ góc nhìn người thụ hưởng. Nhưng phải thẳng thắn rằng dữ liệu chỉ phát huy khi có kỷ luật chuẩn hóa, cập nhật, phân quyền và an toàn thông tin; nếu dữ liệu “bẩn”, quyết sách sẽ lệch.
Ba lớp thể chế cho kinh tế số và đổi mới sáng tạo
Phóng viên: Năm 2025, Quốc hội đã thông qua hàng loạt đạo luật quan trọng liên quan trực tiếp đến chuyển đổi số và phát triển khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo. Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của việc ban hành các luật này đối với hoàn thiện thể chế cho phát triển kinh tế số, xã hội số và đổi mới sáng tạo?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Ý nghĩa lớn nhất là tạo bước chuyển từ “khuyến khích” sang “luật hóa”, từ “phong trào” sang “thể chế”, đúng tinh thần Đại hội XIV: Đột phá thể chế phải gắn với đột phá thực thi; làm thật mạnh, thật nhanh, đến nơi đến chốn.
Đột phá thể chế phải gắn với đột phá thực thi; làm thật mạnh, thật nhanh, đến nơi đến chốn.
Có thể nhìn theo ba lớp:
Lớp một là nền tảng dữ liệu và niềm tin số: Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (thông qua 26/6/2025, hiệu lực 1/1/2026) xác lập khung bảo vệ quyền dữ liệu và trách nhiệm xử lý dữ liệu, củng cố niềm tin để kinh tế số phát triển.
Lớp hai là “luật khung” về chuyển đổi số: Luật Chuyển đổi số (ban hành 11/12/2025, hiệu lực 1/7/2026) đặt nguyên tắc, chính sách, điều phối và biện pháp bảo đảm, nhấn mạnh lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, Nhà nước kiến tạo, dẫn dắt.
Lớp ba là cơ chế đột phá cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo: Nghị quyết 193/2025/QH15 thí điểm cơ chế đặc biệt và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo tạo “đường băng” thể chế để thu hút nhân tài, thúc đẩy thương mại hóa và ứng dụng.
Cùng với đó, sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 tăng kỷ luật quy trình và trách nhiệm thi hành, nền tảng cho đột phá thể chế.
Ba lớp vận hành đồng bộ sẽ tạo không gian thể chế để hình thành thị trường dữ liệu, phát triển dịch vụ số, đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh và quyền con người trên không gian mạng.
Phóng viên: Với vai trò là cơ quan thẩm tra, tham mưu chuyên sâu về lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã và sẽ đóng góp như thế nào trong việc định hướng, thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong toàn bộ hoạt động của Quốc hội theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Tôi nhìn vai trò của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường theo ba trục: thẩm tra đúng, kiến tạo mở, giám sát đến cùng.
Một là, trong thẩm tra các dự án luật liên quan dữ liệu, nền tảng số, AI, an ninh mạng…, Ủy ban phải bảo vệ tinh thần đổi mới nhưng giữ vững kỷ luật pháp quyền: quy định phải đủ mở để khuyến khích sáng tạo, đủ chặt để bảo vệ quyền con người và chủ quyền số. Đó cũng là tinh thần đổi mới tư duy thể chế mà Nghị quyết 57-NQ/TW đặt ra.
Hai là, Ủy ban thẩm tra các “chuẩn” mới cho lập pháp: Đánh giá tác động dựa trên dữ liệu; tiêu chuẩn hóa thuật ngữ công nghệ; đề xuất cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để chính sách theo kịp thực tiễn mà vẫn quản trị rủi ro. Mục tiêu cuối cùng là mỗi đạo luật phải mở đường cho phát triển, không tăng thủ tục, không tăng chi phí tuân thủ bất hợp lý.
Ba là, Ủy ban cùng Quốc hội tăng giám sát thực thi: Giám sát không dừng ở phát hiện bất cập, mà yêu cầu rõ giải pháp, thời hạn và trách nhiệm, đúng tinh thần giám sát “đến cùng”.
Đoàn công tác Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đến khảo sát và làm việc với Mobifone về Dự án Luật Trí tuệ nhân tạo.
Đoàn công tác Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đến khảo sát và làm việc với Mobifone về Dự án Luật Trí tuệ nhân tạo.
Ủy ban cũng cần kết nối mạng lưới chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ để dự báo xu hướng, tham mưu chuẩn mực đạo đức số và an toàn AI.
Trong triển khai Đề án chuyển đổi số 2025–2030, Ủy ban cần góp ý sâu về kiến trúc dữ liệu, an toàn-an ninh mạng và đạo đức công nghệ để Quốc hội số vận hành ổn định, tin cậy.
“Bình dân học vụ số” – đột phá về con người
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Hội nghị chuyên đề “Bình dân học vụ số – Quốc hội số”. (Ảnh: DUY LINH)
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Hội nghị chuyên đề “Bình dân học vụ số – Quốc hội số”. (Ảnh: DUY LINH)
Đoàn viên, thanh niên xã Tả Phìn (thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai) hướng dẫn người dân sử dụng mạng xã hội.
Đoàn viên, thanh niên xã Tả Phìn (thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai) hướng dẫn người dân sử dụng mạng xã hội.
Phóng viên: Phong trào “Bình dân học vụ số - Quốc hội số” được Quốc hội hưởng ứng và triển khai thời gian qua, theo ông có ý nghĩa như thế nào trong việc nâng cao năng lực số cho đại biểu Quốc hội và đội ngũ cán bộ, công chức của Quốc hội?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Phong trào này đánh trúng “đột phá về con người”, yếu tố quyết định tốc độ và chất lượng chuyển đổi số. Nó biến năng lực số từ “kỹ năng bổ trợ” thành “chuẩn công vụ”, khuyến khích mỗi đại biểu, mỗi cán bộ coi tự học kỹ năng số là yêu cầu hằng ngày.
Điểm đáng giá là phong trào tạo một chuẩn chung về kiến thức, kỹ năng số trong hệ thống Quốc hội, qua đó giảm chênh lệch giữa các thế hệ, các lĩnh vực công tác; giúp việc khai thác nền tảng tài liệu điện tử, chữ ký số, hệ thống quản lý hồ sơ dự án luật… đồng đều hơn.
Định hướng còn rất cụ thể về mục tiêu và đo lường: Năm 2025 phấn đấu tối thiểu 40% cán bộ, đại biểu được cấp chứng chỉ; năm 2026 hướng tới 100% hoàn thành chương trình và đạt chuẩn kỹ năng số trên nền tảng VNeID.
Từ đó, tôi tin phong trào không chỉ nâng năng lực số nội bộ Quốc hội, mà còn lan tỏa tinh thần “cán bộ đi trước”, góp phần phổ cập tri thức số cho toàn dân.
Phóng viên: Vậy, quá trình chuyển đổi số trong Quốc hội hiện có phải đối mặt với những khó khăn, thách thức nào, đặc biệt về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực, thưa ông?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Thực tiễn cho thấy ba “điểm nghẽn” đúng như ba đột phá chiến lược: Thể chế, nhân lực và hạ tầng; vướng một khâu là cả hệ thống chậm nhịp.
Về thể chế, khó ở chỗ vừa phải mở cho đổi mới (dữ liệu, AI, nền tảng số), vừa phải chặt để bảo vệ quyền dữ liệu, an ninh mạng, bí mật nhà nước và kỷ luật công vụ. Bên cạnh đó, các quy định liên quan chia sẻ dữ liệu, liên thông hệ thống, đầu tư-thuê dịch vụ số… đôi khi còn phân tán, dễ phát sinh “điểm dừng” thủ tục.
Về hạ tầng, yêu cầu “đồng bộ và an toàn” rất cao: Tái cấu trúc lên hạ tầng số, điện toán đám mây, dự phòng, kết nối dữ liệu với các cơ quan trong hệ thống chính trị, đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh mạng.
Về nhân lực, thách thức là năng lực số chưa đồng đều và sức ì thói quen làm việc cũ. “Bình dân học vụ số” đã tạo cú hích, nhưng phải đi kèm cơ chế đánh giá, sử dụng và đãi ngộ phù hợp cho nhân lực chuyển đổi số và an ninh mạng.
Một khó khăn khác là nguồn lực và quản trị thay đổi: đầu tư hạ tầng, dữ liệu, an ninh mạng phải liên tục; cơ chế phối hợp liên thông phải đủ mạnh để tránh “mạnh ai nấy làm”.
Cốt lõi, như Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, là năng lực tổ chức thực hiện và kỷ luật thực thi: Đã làm thì làm đến nơi đến chốn, có đo lường, có giám sát, có trách nhiệm.
Năm 2026 – năm “làm đến cùng”, công khai tiến độ, gắn trách nhiệm người đứng đầu
Phóng viên: Từ thực tiễn triển khai, theo ông cần những giải pháp trọng tâm nào trong năm 2026 để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động chuyển đổi số, gắn với xây dựng Quốc hội số?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Năm 2026 phải là năm “làm đến cùng” những việc đã định, đúng tinh thần “làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn”. Tôi đề xuất 5 nhóm giải pháp sau.
Một là, hoàn thiện Kiến trúc Quốc hội số và kho dữ liệu dùng chung, kèm cơ chế quản trị dữ liệu thống nhất (chuẩn dữ liệu, phân quyền, quy trình cập nhật, làm sạch, kiểm soát chất lượng).
Hai là, đưa các hệ thống phục vụ kỳ họp, chỉ đạo điều hành và thẩm tra vào vận hành ổn định; hướng tới văn phòng không giấy, chữ ký số, quy trình xử lý văn bản hoàn toàn trên môi trường số.
Ba là, phát triển năng lực số bằng cơ chế “học, làm và đánh giá”: Gắn “Bình dân học vụ số - Quốc hội số” với nhiệm vụ; đánh giá theo chuẩn kỹ năng; khuyến khích ứng dụng AI, phân tích dữ liệu trong lập pháp và giám sát.
Bốn là, coi an toàn, an ninh mạng là điều kiện tiên quyết; triển khai nghiêm Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân để tạo niềm tin số trong tương tác với cử tri.
Năm là, siết kỷ luật thực thi: Chỉ tiêu đo lường, công khai tiến độ, gắn trách nhiệm người đứng đầu, giám sát đến cùng. Quốc hội số không được phép “đẹp ở giao diện”, mà phải “mạnh ở năng lực ra quyết định”.
Bên cạnh đó, cần ưu tiên hệ thống phục vụ bầu cử và mở rộng nền tảng số tới cơ quan dân cử địa phương, bảo đảm thống nhất chuẩn dữ liệu.
Phóng viên: Nhân dịp xuân Bính Ngọ 2026 và kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam, ông có thể chia sẻ kỳ vọng về vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong việc nâng cao chất lượng lập pháp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới?
Tiến sĩ Trần Văn Khải: Tôi kỳ vọng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ giúp Quốc hội làm luật “nhanh hơn nhưng chắc hơn”, “mở hơn nhưng kỷ luật hơn”. Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh bối cảnh công nghệ số và trí tuệ nhân tạo biến đổi nhanh, sâu rộng; vì vậy, lập pháp phải theo kịp thực tiễn và kiến tạo không gian phát triển mới.
Tôi kỳ vọng ba chuyển dịch.
Một là, lập pháp dựa trên dữ liệu: dữ liệu thực thi pháp luật, dữ liệu kinh tế-xã hội, dữ liệu phản ánh của cử tri trở thành “nguyên liệu” chính cho đánh giá tác động và thiết kế chính sách. Khi đó, mỗi đạo luật sẽ thực sự mở đường cho phát triển, không tăng thủ tục, không làm phát sinh chi phí tuân thủ bất hợp lý.
Hai là, lập pháp thích ứng: Có cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cập nhật định kỳ, để nắm bắt đổi mới mà vẫn quản trị rủi ro. Nghị quyết 57 và cơ chế thí điểm là những bước mở quan trọng cho tinh thần này.
Ba là, Quốc hội số phục vụ nhân dân: Minh bạch hơn, gần dân hơn, tương tác hai chiều mạnh hơn. Khi người dân và doanh nghiệp tham gia, giám sát bằng công nghệ, niềm tin xã hội sẽ được củng cố, và đó là nguồn lực mềm vô giá.
Tôi cũng kỳ vọng mọi ứng dụng công nghệ, nhất là AI, được đặt trong khuôn khổ pháp lý, đạo đức, lấy con người làm trung tâm. Xuân mới, nếu làm đồng bộ ba đột phá, chúng ta sẽ tạo “đà mới, thế mới” cho đất nước bứt phá.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Tổ chức thực hiện: TRƯỜNG SƠN
Nội dụng: THU HẰNG-VĂN TOẢN
Trình bày: PHƯƠNG NAM