Xây dựng một Việt Nam thích ứng
với biến đổi khí hậu
Tiến sĩ NGUYỄN NGỌC (chuyên gia nghiên cứu biến đổi khí hậu)
Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu. Để ứng phó, Chính phủ đã ban hành Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 1422/QĐ-TTg ngày 19/11/2024). Dù vậy, những kế hoạch này vẫn đang dừng lại ở chính sách mà chưa có đầu tư thích đáng cho các hoạt động thích ứng cụ thể.
Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu. Để ứng phó, Chính phủ đã ban hành Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 1422/QĐ-TTg ngày 19/11/2024). Dù vậy, những kế hoạch này vẫn đang dừng lại ở chính sách mà chưa có đầu tư thích đáng cho các hoạt động thích ứng cụ thể.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam cần đầu tư khoảng 368 tỷ USD từ nay đến năm 2040 cho công tác thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Con số này ước tính chiếm khoảng 6,8% GDP mỗi năm.
Từ kịch bản đến thực tiễn
Lần công bố kịch bản biến đổi khí hậu gần đây nhất là năm 2020. Trải qua 15 năm, biến đổi khí hậu không còn là nguy cơ mà là sự hiện hữu rõ ràng, và thực tế diễn ra đang có xu hướng vượt quá kịch bản đã công bố.
Kỷ lục những năm nóng nhất lịch sử đã được Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) ghi nhận, chính là 5 năm trở lại đây (từ 2020-2025). Trong đó, có chuỗi nắng nóng liên tục trong các năm 2023-2024-2025 với nền nhiệt trung bình toàn cầu đã vượt ngưỡng 1,5°C vào năm 2024.
Chưa kể, sự biến động lớn của hệ thống khí hậu đã gây ra những giai đoạn hạn hán cực đoan và xen kẽ giữa các giai đoạn hạn hán do El Nino là những năm mưa lụt lớn do La Nina.
Khu vực triển khai công trình kè bảo vệ ven bờ Biển Đông thuộc tỉnh Cà Mau
Tình hình còn diễn biến xấu hơn, khi kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất dựa trên Báo cáo đánh giá thứ sáu (AR6) của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã dự báo: Nhiệt độ toàn cầu sẽ tiếp tục tăng, đạt khoảng 1,5-1,7°C so với thời kỳ tiền công nghiệp (1850-1900) vào khoảng 2030-2050 (tùy kịch bản).
Như vậy, mục tiêu khống chế nhiệt độ toàn cầu không tăng quá 1,5°C theo Thỏa thuận Paris gần như khó đạt được và chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng cho một kịch bản xấu hơn: Nhiệt độ toàn cầu tăng vượt quá ngưỡng 1,5°C. Khi đó, sự nóng lên toàn cầu làm cho hệ thống khí quyển mất đi sự ổn định và kéo theo những biến động về thời tiết cực đoan sẽ tiếp tục có xu hướng gia tăng không theo quy luật.
Đối với Việt Nam, biến đổi khí hậu còn thể hiện qua các kỷ lục về khí tượng được ghi nhận trong những năm gần đây. Năm 2023, trạm Hồi Xuân (Thanh Hóa) ghi nhận mức nhiệt độ 44,1°C vào ngày 6/5/2023. Mức nhiệt này xô đổ kỷ lục 43,4°C tại Hương Khê (Hà Tĩnh) năm 2019.
Về lượng mưa, ngày 27/10/2025 tại trạm đo mưa Bạch Mã đã ghi nhận lượng mưa lên tới 1.739mm trong vòng 24 giờ. Đây là lượng mưa ngày lớn thứ nhì thế giới từng được ghi nhận trong lịch sử khí tượng.
Thiên tai đã gây nên những thiệt hại nghiêm trọng đến con người, sinh kế của từng hộ gia đình và ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc gia.
Kè phòng chống sạt lở khu vực ven bờ Biển Đông tỉnh Cà Mau.
Kè phòng chống sạt lở khu vực ven bờ Biển Đông tỉnh Cà Mau.
Theo số liệu từ Cục Quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai, những năm có thiệt hại lớn về kinh tế như năm 2017 thiệt hại 60 nghìn tỷ đồng; năm 2020 (35.500 tỷ đồng), năm 2024 (88.748 tỷ đồng).
Đặc biệt trong năm 2025 thiên tai đã gây thiệt hại hơn 100 nghìn tỷ đồng. Đây là những tổn thất rất lớn về kinh tế, làm chậm mục tiêu phát triển của đất nước và gây ảnh hưởng lâu dài về mặt sinh kế của người dân.
Mỗi người dân vùng mặn đang sát cánh cùng kiểm lâm bảo vệ rừng.
Mỗi người dân vùng mặn đang sát cánh cùng kiểm lâm bảo vệ rừng.
Thách thức lớn đối với Việt Nam
Theo kịch bản về biến đổi khí hậu mới nhất được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố, trong giai đoạn từ 2030 đến 2050, nhiệt độ trung bình toàn quốc sẽ tăng từ 1,1°C đến 1,5°C, số ngày nắng nóng trên 35°C dự kiến sẽ tăng thêm 15-30 ngày/năm và lượng mưa tăng từ 5% đến 15% trên quy mô toàn quốc.
Cùng với sự gia tăng về nhiệt độ và lượng mưa là sự gia tăng các đợt thiên tai cực đoan như nắng nóng vượt kỷ lục, lụt lớn và bão mạnh. Nước biển dâng do biến đổi khí hậu cũng tạo ra nguy cơ lớn về ngập triều ở các vùng thấp trũng, đặc biệt là ngập lụt do triều cường ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Cùng với sự gia tăng về nhiệt độ và lượng mưa là sự gia tăng các đợt thiên tai cực đoan như nắng nóng vượt kỷ lục, lụt lớn và bão mạnh. Nước biển dâng do biến đổi khí hậu cũng tạo ra nguy cơ lớn về ngập triều ở các vùng thấp trũng, đặc biệt là ngập lụt do triều cường ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Đây sẽ là thách thức lớn trong công tác thích ứng với biến đổi khí hậu trong tương lai gần từ 10-20 năm tiếp theo. Thực tế này cộng với thách thức trong huy động ngân sách khổng lồ cho công tác thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu, đòi hỏi chúng ta cần linh hoạt trong việc lựa chọn giải pháp thích ứng phù hợp cho từng giai đoạn:
Nâng cao khả năng chống chịu của hạ tầng
Cần xác định hạ tầng là "lá chắn" trực tiếp trước các hiện tượng khí hậu cực đoan trong đó ưu tiên việc đánh giá lại rủi ro thiên tai theo các mức thiên tai lịch sử: Chẳng hạn hạ tầng đê, đập, hồ chứa ở các địa phương đã có xảy ra lụt lịch sử như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Nghệ An, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Lâm Đồng.
Cần xác định ngưỡng chịu tải của các công trình hồ đập và đê điều nơi đó để có phương án nâng cấp khả năng chịu tải của hạ tầng đối với các sự kiện mưa cực đoan như đã từng xảy ra. Mỗi tỉnh, thành phố cần tính toán xây dựng ngưỡng chịu tải của hạ tầng chống ngập lụt dựa trên cơ sở phân tích chi phí lợi ích và sự hài hòa với hệ sinh thái.
Bên cạnh hạ tầng công cộng như đê điều và hệ thống thoát nước, Chính phủ và người dân cần đồng hành xây dựng các công trình dân sinh như nhà ở, nhà sinh hoạt cộng đồng đạt ngưỡng chịu đựng với thiên tai cực đoan theo từng vùng miền.
Ở miền núi cần xây dựng các công trình nhà ở chống lũ quét và sạt lở, ở đồng bằng cần xây dựng các công trình nhà ở chống chịu với lũ lụt dựa vào mức lụt lịch sử từng ghi nhận, và ở miền ven biển cần xây dựng các công trình nhà ở chống chịu với gió mạnh do bão gây ra.
Vùng ven biển xã Nhơn Hải (huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận cũ, nay là tỉnh Khánh Hòa) thường xuyên chịu áp lực từ những đợt sóng lớn đánh vào bờ. (Ảnh: Nguyễn Thành-TTXVN)
Vùng ven biển xã Nhơn Hải (huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận cũ, nay là tỉnh Khánh Hòa) thường xuyên chịu áp lực từ những đợt sóng lớn đánh vào bờ. (Ảnh: Nguyễn Thành-TTXVN)
Thích ứng dựa vào hệ sinh thái và ứng dụng khoa học công nghệ
Thay vì chỉ "chống lại" thiên nhiên, Việt Nam cần chuyển hướng sang sống chung và tận dụng hệ sinh thái, trong đó ưu tiên bảo vệ rừng đầu nguồn, hệ sinh thái đất ngập nước và rừng ngập mặn ven biển. Đây là những “bức tường xanh” sẽ giúp giảm thiểu tính cực đoan của khí hậu, đồng thời góp phần giảm thiểu phát thải khí nhà kính, đóng góp vào cam kết Net Zero tại COP26 của Việt Nam. Đồng thời, cần hoàn thiện khung pháp lý để bán tín chỉ carbon từ rừng, tạo nguồn thu tái đầu tư cho các dự án thích ứng.
Nhóm cán bộ Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện đề tài lắp đặt thử nghiệm hệ thống quan trắc tự động tại đảo Hòn Dấu (thành phố Hải Phòng) thuộc nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu công nghệ cảm biến quang và thiết kế phát triển hệ thống quan trắc tự động, từ xa ứng dụng trong quan trắc môi trường biển Việt Nam” (mã số ĐTĐL.CN-92/21)
Nhóm cán bộ Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện đề tài lắp đặt thử nghiệm hệ thống quan trắc tự động tại đảo Hòn Dấu (thành phố Hải Phòng) thuộc nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Nghiên cứu công nghệ cảm biến quang và thiết kế phát triển hệ thống quan trắc tự động, từ xa ứng dụng trong quan trắc môi trường biển Việt Nam” (mã số ĐTĐL.CN-92/21)
Bên cạnh bảo vệ rừng và hệ sinh thái đất ngập nước, chúng ta cần áp dụng các giải pháp thuận thiên trong việc bảo vệ các công trình đê sông và đê biển. Hạn chế việc can thiệp bằng bê-tông hóa ở các bãi biển có nền cát được hình thành từ lâu đời và hạn chế việc xâm lấn các không gian chứa lũ ở các lưu vực sông và khu vực đô thị.
Để thích ứng với xâm nhập mặn và nước biển dâng cần áp dụng các giải pháp chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và thủy sản, trong đó linh hoạt áp dụng các giải pháp chuyển từ độc canh cây lúa sang mô hình "tôm-lúa" hoặc "tôm-rừng" để tận dụng nước mặn thay vì cố gắng loại bỏ nó.
Sử dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn bao gồm dữ liệu lịch sử, dữ liệu quan trắc thời gian thực về khí tượng thủy văn và dữ liệu dự báo để xây dựng các bản đồ rủi ro thiên tai cho từng vùng, từng khu vực. Dựa vào đó có thể xây dựng các bản đồ cảnh báo thiên tai thời gian thực nhằm phục vụ cho việc lập kế hoạch và ra quyết định ứng phó thiên tai.
Trình bày: ANH TUẤN
Ảnh: BÁO NHÂN DÂN, TTXVN

