Nghịch lý vận hành hồ chứa
Gần 8.000 hồ chứa ở nước ta đang vận hành trong một hệ thống quản trị phân mảnh, pháp luật chồng chéo, dữ liệu rời rạc và trách nhiệm chưa rõ ràng. Khi những trận xả lũ “đúng quy trình” vẫn gây thiệt hại, các điểm nghẽn thể chế, vận hành và khai thác không còn là bất cập kỹ thuật, mà trở thành rủi ro hệ thống cần được tháo gỡ khẩn cấp.
Nhiều “nhạc công” và khoảng trống “nhạc trưởng”
Thực tế vận hành trong giai đoạn 2024-2025 cho thấy áp lực từ mưa lũ cực đoan đã đẩy khả năng chịu tải của các công trình hồ chứa tới giới hạn. Các hồ chứa lớn, đặc biệt là các hồ thủy điện bậc thang, mặc dù có quy trình vận hành liên hồ chứa nhưng sự phối hợp giữa các chủ đập và chính quyền địa phương vẫn còn nhiều lúng túng.
Giữa tháng 11, nước từ thượng nguồn sông Ba đổ về như trút. Ở phường Đông Hòa (Đắk Lắk), mực nước không dâng theo nhịp quen thuộc mà dựng đứng từng giờ, từ cảnh báo vọt lên khẩn cấp chỉ trong một buổi chiều. Người dân chưa kịp kê cao đồ đạc, nước đã tràn bậc cửa, ùa vào nhà, cuốn phăng mọi thứ. Nhiều người bảo: chưa bao giờ thấy lũ lên nhanh đến vậy.
Trên thượng nguồn, các hồ chứa, trong đó có thủy điện Sông Ba Hạ đồng loạt xả lớn, có lúc tới hàng chục nghìn m3 mỗi giây. Nước không chỉ nhiều mà còn ập xuống dồn dập, tạo những “cú sốc” mà hạ du không kịp trở tay. Nhưng nghịch lý nằm ở chỗ: tất cả đều... đúng quy trình.
Hồ đầy thì phải xả. Mỗi khâu đều có thể chứng minh làm đúng. Nhưng khi cái đúng ấy vẫn kéo theo thiệt hại, vấn đề không còn ở một quyết định đơn lẻ, mà ở cách cả hệ thống được thiết kế và vận hành. Trên cả nước, hàng nghìn hồ chứa với tổng dung tích hàng chục tỷ m3 nước đang vận hành mỗi ngày. Đây không phải những công trình rời rạc mà là một hệ thống liên kết theo lưu vực, nơi một quyết định xả ở thượng nguồn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của hàng chục nghìn hộ dân phía dưới. Nhưng nghịch lý là, hành lang pháp lý không thiếu, nhưng càng nhiều quy định, ranh giới trách nhiệm lại càng trở nên chồng lấn, thiếu điểm quy chiếu rõ ràng.
Theo GS,TS Vũ Minh Cát (Trường đại học Thủy lợi), cùng một khu vực hồ chứa, Luật Thủy lợi quy định về phạm vi bảo vệ công trình, trong khi Luật Tài nguyên nước lại điều chỉnh hành lang bảo vệ nguồn nước - hai cách tiếp cận khác nhau nhưng chồng lấn không gian. Khi chưa có cơ chế phân định rõ, trách nhiệm quản lý dễ rơi vào tình trạng “giao thoa nhưng không rõ chủ”. Hệ quả là địa phương lúng túng, doanh nghiệp loay hoay, thủ tục có khi kéo dài.
GS,TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT chỉ rõ: lũ về thì không thể mỗi ngành một hướng. Thủy điện lo an toàn đập và phát điện, thủy lợi giữ nước cho sản xuất, còn hạ du - nơi hứng trọn rủi ro lại thường được “giao” cho địa phương tự xoay xở. Một hệ thống như vậy thực chất không phải phối hợp đa ngành, mà là vận hành song song, thậm chí có lúc kéo ngược nhau.
Ngay cả các Ủy ban lưu vực sông vốn được kỳ vọng là “nhạc trưởng” cũng khó cất tiếng. Không có quyền cưỡng chế, phụ thuộc vào sự đồng thuận, những thiết chế này gần như bất lực khi phải xử lý xung đột giữa các tỉnh, hay giữa thủy điện và nông nghiệp trên cùng một dòng sông. Sự phân mảnh ấy đi thẳng xuống khâu thực thi. Hồ lớn có hệ thống quan trắc, vận hành bài bản do bộ, tỉnh quản, còn phần lớn hồ vừa và nhỏ giao cho cấp huyện (cũ), xã, hợp tác xã quản lý. Thống kê cho thấy chỉ khoảng 51% hồ vừa và 30% hồ nhỏ có phương án bảo vệ - nghĩa là hàng nghìn công trình vẫn “vận hành trong mù”. Trách nhiệm bị chia nhỏ theo từng cấp, từng khâu và kết cục là không ai chịu trách nhiệm trọn vẹn khi xảy ra thiệt hại. Đây chính là điểm nghẽn lớn nhất của khâu thực thi.
Ở góc độ kỹ thuật, những “lỗ hổng” hiện ra rõ hơn. GS,TS Nguyễn Quốc Dũng, nguyên Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam cho rằng quy trình vận hành liên hồ vẫn nặng tính “hành chính” cứng nhắc theo lịch, không theo dòng chảy. Quy định tích nước từ tháng 11 từng đúng, nhưng khi mùa mưa đến muộn lại trở thành lực cản, làm giảm khả năng đón lũ.
Biên độ xả theo quy trình cho phép từ 0 lên hàng nghìn m³/s mà không ràng buộc lộ trình tăng - giảm, việc xả đột ngột hoàn toàn có thể xảy ra: đúng quy định, nhưng đủ tạo cú sốc cho hạ du. Trong khi đó, dự báo chưa theo kịp thực tế. Ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường ) thừa nhận các bản tin dự báo thời tiết còn biên độ rộng, sai số lớn, khiến chủ hồ luôn đứng trước thế khó: giữ nước để phát điện hay xả sớm để phòng lũ.
Đằng sau những hạn chế trong dự báo và vận hành là điểm nghẽn gốc. Trong hơn 6.700 hồ thủy lợi, chỉ khoảng 900 hồ đủ dữ liệu để dự báo, khiến nhiều quyết định vẫn phải dựa vào kinh nghiệm. Việt Nam hiện vẫn chưa có một cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất, liên thông thời gian thực về hồ chứa. Dữ liệu đang phân tán theo ngành, theo dự án, mỗi nơi một hệ thống, dẫn tới tình trạng “cát cứ dữ liệu”, triển khai “vận hành thông minh” còn xa vời. Thông tin giữa các hồ và giữa các cấp quản lý chưa được cập nhật, chia sẻ kịp thời, khiến kết nối dữ liệu gặp khó và làm giảm độ chính xác của các mô hình dự báo. Việc vận hành chủ yếu do chính đơn vị quản lý tự báo cáo, thiếu kiểm toán độc lập sau mùa lũ. Ngay cả câu hỏi cơ bản - xả đúng quy trình nhưng gây thiệt hại lớn có được coi là vận hành tốt hay không - đến nay vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng.
Kinh tế mặt nước đang “ngủ quên”
Hồ chứa nhiều, nhưng “kinh tế mặt nước” vẫn ngủ quên. Ở Tây Nguyên, nghịch lý hiện ra rõ: tài nguyên thì mênh mông, nhưng sinh kế lại bị “tắc” ngay trên chính mặt nước ấy. Hơn 2.000 công trình thủy lợi, hàng chục nghìn ha mặt nước lẽ ra có thể nuôi sống cả một chuỗi kinh tế thủy sản lại đang bị bỏ trống hoặc khai thác tự phát. Do vướng quy định của Luật Thủy lợi 2017 và cơ chế quản lý tài sản công, các công ty thủy lợi không thể ký hợp đồng cho thuê mặt nước. Người dân vẫn nuôi cá, nhưng rủi ro xảy ra thì tự gánh. Việc nuôi trồng cũng bị kẹt giữa các quy định bảo vệ chất lượng nước cần thiết nhưng chưa có tiêu chuẩn cụ thể để dung hòa.
Tiềm năng du lịch và vận tải thủy trên các lòng hồ lớn cũng đang “đứng ngoài cuộc”. Một dự án muốn triển khai phải đi qua nhiều “cửa”: chủ đập, bộ, ngành, địa phương... Trong khi đó, nhiều hồ thậm chí chưa cắm mốc hành lang bảo vệ, ranh giới pháp lý mờ nhạt. Nơi thì lấn chiếm xây dựng trái phép, nơi không dám đầu tư vì sợ vướng quy định - tình trạng vừa buông lỏng, vừa siết chặt.
Ông Bùi Tuấn Sơn, Chi cục trưởng Thủy sản Hà Tĩnh nhấn mạnh nút thắt lớn nhất: mặt nước hồ là tài sản công, nhưng lại chưa có cơ chế rõ ràng để cho thuê khai thác. Các đơn vị quản lý vì thế không dám ký hợp đồng, còn người dân thì làm tự phát vừa khó kiểm soát, vừa thất thu ngân sách.
Hà Tĩnh sở hữu hệ thống hồ đập vào loại lớn của cả nước, nhưng vẫn chưa hình thành được vùng sản xuất quy mô nuôi trồng thủy sản, chủ yếu nuôi cá truyền thống còn manh mún, năng suất và hiệu quả thấp. Quy hoạch nuôi trồng thủy sản hồ chứa bị “lép vế” trước ưu tiên thủy lợi, thủy điện; thủ tục cấp phép chồng chéo, đến nay hồ Ngàn Trươi mới chỉ có một mô hình thử nghiệm vỏn vẹn 2 ha. Đầu ra cũng bấp bênh, tiêu thụ nội địa nhỏ lẻ, giá thấp. Ông Lê Văn Hùng, phụ trách Cụm Quản lý công trình hồ chứa Ngàn Trươi nhìn nhận: tiềm năng, con người, công nghệ đều có, nhưng thiếu cơ chế để “mở khóa”. Nếu được tháo gỡ, gần 40 km² mặt nước chính là nguồn sinh kế cho bà con, đóng góp nguồn thu cho địa phương.
Các mô hình như điện mặt trời nổi hay du lịch sinh thái lại vướng các quy định bảo vệ chất lượng nước và an toàn đập. Những quy định này là cần thiết, nhưng thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể để “dung hòa” với phát triển.
Ai được khai thác? Lợi ích chia thế nào giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân? Khi chưa có lời đáp, người sống quanh hồ không có động lực giữ gìn, còn khai thác tự phát vẫn diễn ra, kéo theo nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi.
Việc chuyển từ “thủy lợi phí” sang “giá dịch vụ thủy lợi” theo Luật Thủy lợi được coi là bước ngoặt về tư duy. Nhưng trên thực tế, giá dịch vụ vẫn ở mức thấp, điều chỉnh chậm và chưa theo kịp biến động chi phí vận hành. Trong khi điện, xăng dầu, nhân công, vật tư đều tăng mạnh, nhiều đơn vị khai thác rơi vào tình trạng càng vận hành càng khó cân đối tài chính, buộc Nhà nước phải tiếp tục bù đắp.
Thay vì “tính đúng, tính đủ”, giá dịch vụ lại được neo theo khả năng ngân sách. Một kiểu “gọt chân cho vừa giày” khiến nguồn thu vốn đã yếu lại càng không bền. Hệ quả là nhiều đơn vị chỉ đủ duy trì vận hành tối thiểu, không còn nguồn lực để sửa chữa, nâng cấp hay đầu tư quan trắc. Cả nước hiện có hơn 1.100 hồ xuống cấp, trong đó phần lớn là hồ nhỏ, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Tiềm năng thuỷ sản của hồ chứa, nếu phát triển đúng cách và đồng bộ, hiện đại, có thể mang lại nguồn thu 16.000 tỷ đồng/năm.
Tiềm năng thuỷ sản của hồ chứa, nếu phát triển đúng cách và đồng bộ, hiện đại, có thể mang lại nguồn thu 16.000 tỷ đồng/năm.
Bước ngoặt trong tư duy quản trị
Một tín hiệu khả quan là Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 12/2026/NQ-CP (hiệu lực thi hành từ ngày 15/5) quy định về một số giải pháp cấp bách trong quản lý an toàn đập, hồ chứa nước và vùng hạ du trong trường hợp mưa, lũ vượt tần suất thiết kế; mưa, lũ gây ngập lụt ở hạ du hồ chứa trên diện rộng có nguy cơ gây thiệt hại lớn về người, tài sản và các công trình cơ sở hạ tầng; động đất vượt tiêu chuẩn thiết kế trên lưu vực hồ chứa nước hoặc tác động khác gây mất an toàn cho đập (tình huống khẩn cấp). Nghị quyết này được xem là một bước ngoặt về cách tiếp cận bảo đảm an toàn khi chú trọng vận hành hồ chứa theo diễn biến mưa, lũ thực tế trong năm, ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ chứa để thực hiện nhiệm vụ cắt, giảm lũ cho hạ du khi vận hành liên hồ chứa, đơn hồ trong mùa mưa lũ và trong tình huống dự báo có thể xảy ra mưa lũ lớn, đặc biệt lớn trên lưu vực. Cùng với đó, việc phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong vận hành hồ chứa, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm và rõ kết quả góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm và đề cao tính chủ động, qua đó rút ngắn thời gian ra quyết định trong các tình huống khẩn cấp.
Với những điều chỉnh này, Nghị quyết mở ra một khung tư duy mới cho quản trị hồ chứa trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, nơi an toàn công trình và an toàn của cộng đồng phải được nhìn nhận như một thể thống nhất.
Tổ chức thực hiện: Nhân Dân hằng tháng
Nội dung : Thanh Chương, Kỳ Thanh, Lam Anh, Duy Nguyên
Trình bày: Phi Nguyên
Ảnh: Nhân Dân, nguồn internet.

