Từ bao đời nay, biển gắn với không gian sinh tồn, giao thương, bảo vệ chủ quyền và đời sống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh thế giới bước vào kỷ nguyên của biển và đại dương, vai trò của biển càng được nhìn nhận sâu sắc hơn, không chỉ là nguồn tài nguyên để khai thác, mà là không gian phát triển chiến lược, nơi hội tụ các lợi ích kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, môi trường và văn hóa.
Kỳ 1: Biển trong tầm nhìn phát triển quốc gia
Với hơn 3.260km đường bờ biển, vùng biển và vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2, hệ thống đảo, quần đảo phong phú và nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, Việt Nam có một lợi thế địa-hải dương hiếm có. Trong bối cảnh hiện nay, vai trò của biển không dừng lại ở giá trị truyền thống, mà trở thành không gian cạnh tranh chiến lược mới, là nơi quốc gia nào nắm được ưu thế công nghệ, năng lực quản trị và khả năng huy động nguồn lực thì quốc gia đó có cơ hội bứt phá.
Từ lợi thế tự nhiên đến tầm nhìn chiến lược
Với Việt Nam, phát triển bền vững kinh tế biển không đơn thuần là một lựa chọn, mà là yêu cầu mang tính cấu trúc đối với cả nền kinh tế. Đó là cách để nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, bảo vệ chủ quyền, bảo đảm sinh kế lâu dài cho cộng đồng ven biển và thích ứng với những biến động ngày càng phức tạp của thế giới.
Chính trong tầm nhìn đó, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (Nghị quyết 36) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Chính phủ cụ thể hóa bằng Nghị quyết 26/NQ-CP ngày 5/3/2020 của Chính phủ (Nghị quyết 26) về Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển là bước ngoặt quan trọng.
Biển là một không gian tổng hợp, nơi hội tụ đồng thời các lợi ích kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, môi trường, văn hóa và sinh kế của cộng đồng ven biển.
Biển là một không gian tổng hợp, nơi hội tụ đồng thời các lợi ích kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, môi trường, văn hóa và sinh kế của cộng đồng ven biển.
Trong tầm nhìn ấy, biển không còn được nhìn như “phần kéo dài” của đất liền, cũng không chỉ là nơi khai thác tài nguyên, đánh bắt thủy sản, phát triển cảng biển hay du lịch. Biển là một không gian tổng hợp, nơi hội tụ đồng thời các lợi ích kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, môi trường, văn hóa và sinh kế của cộng đồng ven biển.
Theo ông Nguyễn Hồng Hải, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, hành trình hơn 7 năm triển khai Nghị quyết số 36 và 5 năm thực hiện Nghị quyết 26 đã chứng minh cho một bước ngoặt lớn, Việt Nam không chỉ thay đổi diện mạo kinh tế biển bằng những con số tăng trưởng mà cả một cuộc cách mạng trong tư duy quản trị. Với lộ trình quản lý không gian biển dựa trên dữ liệu khoa học và bảo tồn sức khỏe hệ sinh thái, Việt Nam đang định hình một phương thức mới: “Quản trị biển hiện đại” thay thế cho mô hình “quản lý biển” truyền thống. Đây là sự dịch chuyển mang tính nền tảng, đưa tư duy hòa quyện cùng thực tiễn để hướng tới sự phát triển bền vững và thịnh vượng.
Trước hết, đó là sự chuyển đổi từ quản lý phân tán sang quản trị tổng hợp, thống nhất trên không gian biển. Trong một thời gian dài, các hoạt động trên biển thường được tổ chức theo từng ngành, từng lĩnh vực như thủy sản, dầu khí, hàng hải, du lịch, năng lượng, bảo tồn… Cách tiếp cận này từng phù hợp với từng giai đoạn phát triển, nhưng cũng bộc lộ hạn chế khi xung đột sử dụng không gian biển ngày càng gia tăng, yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cấp bách, trong khi liên kết giữa các ngành, các địa phương ven biển chưa thật sự chặt chẽ.
Việc ban hành Nghị quyết số 139/2024/QH15 về Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 vì thế được xem là một dấu mốc quan trọng. Lần đầu tiên, các khu vực sử dụng biển được định hướng, phân định theo chức năng, từ khu vực bảo vệ, bảo tồn, khu vực khai thác có điều kiện đến khu vực ưu tiên phát triển. Đây không chỉ là công cụ quy hoạch, mà còn là nền tảng để giảm xung đột lợi ích, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, đồng thời tạo cơ sở cho điều phối liên ngành, liên vùng trong khai thác và bảo vệ biển.
Với việc ban hành Nghị quyết số 139/2024/QH15 về Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, lần đầu tiên, các khu vực sử dụng biển được định hướng, phân định theo chức năng, từ khu vực bảo vệ, bảo tồn, khu vực khai thác có điều kiện đến khu vực ưu tiên phát triển.
Cùng với đó, tư duy phát triển biển đang chuyển mạnh từ khai thác sang phát triển bền vững dựa trên hệ sinh thái. Nếu trước đây, bảo vệ môi trường biển nhiều khi được xem là yêu cầu đi kèm sau phát triển kinh tế, thì nay đã trở thành một trụ cột ngang bằng trong chiến lược phát triển. Các chương trình giảm rác thải nhựa đại dương, phục hồi hệ sinh thái ven biển, bảo vệ rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, cũng như mục tiêu mở rộng hệ thống khu bảo tồn biển cho thấy cách tiếp cận hệ sinh thái đang dần trở thành nguyên tắc chủ đạo trong quản lý biển.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi phát triển kinh tế biển không thể bền vững nếu hệ sinh thái biển bị suy kiệt. Một cảng biển hiện đại, một trung tâm du lịch biển, một vùng nuôi trồng thủy sản hay một dự án năng lượng ngoài khơi đều cần được đặt trong giới hạn chịu tải của môi trường. Nói cách khác, sức khỏe của biển chính là nền tảng cho sức sống lâu dài của kinh tế biển.
Biển hiện nay không còn chia cắt bởi địa giới hành chính mà được kết nối bằng mạch liên kết vùng chặt chẽ.
Công tác quản trị biển đang từng bước chuyển từ dựa vào kinh nghiệm sang dựa trên khoa học, dữ liệu và công nghệ. Hệ thống điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển; cơ sở dữ liệu biển; công nghệ viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS), quan trắc môi trường biển… đang từng bước được hình thành và hoàn thiện. Đến nay, việc hoàn thành hải đồ tỷ lệ 1:200.000 cho khoảng 82% diện tích vùng biển, cùng với đó là nhiều hải đồ và bản đồ địa hình đáy biển chi tiết ở các tỷ lệ 1/100.000 đến 1/5.000 tại Trường Sa, Hoàng Sa, vùng ven bờ, cửa sông và các khu vực chiến lược. Trong giai đoạn 2020-2025, đã bổ sung 74 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/50.000 tại Vịnh Bắc Bộ và vùng biển từ Ninh Thuận đến Kiên Giang, góp phần cập nhật dữ liệu nền phục vụ quy hoạch không gian biển và quản lý tổng hợp tài nguyên-môi trường. Những dữ liệu này được ví như “bộ não” của quản trị biển hiện đại, giúp các quyết định quản lý đưa ra dựa trên bằng chứng khoa học xác thực.
Thêm vào đó, việc chuyển từ cơ chế “cát cứ ngành” sang tăng cường điều phối liên ngành, liên vùng. Việc thiết lập cơ chế chỉ đạo quốc gia thống nhất, cùng với tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương ven biển, đã từng bước nâng cao hiệu lực quản lý đối với các vấn đề liên ngành như quản lý vùng bờ, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển hạ tầng ven biển. Biển hiện nay không còn chia cắt bởi địa giới hành chính mà được kết nối bằng mạch liên kết vùng chặt chẽ.
Từ tư duy khai thác sang tư duy nuôi dưỡng; từ quản lý đơn ngành sang quản trị tổng hợp; từ kinh nghiệm sang dữ liệu; từ địa giới hành chính sang liên kết không gian biển. Đây chính là nền móng để Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng và có trách nhiệm với đại dương.
Những cực tăng trưởng và các “điểm nghẽn” cần vượt qua
Trao đổi với chúng tôi về kết quả thực hiện Nghị quyết 36, Tiến sĩ Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, điều đáng chú ý nhất sau chặng đường vừa qua không chỉ là một số ngành kinh tế biển có bước phát triển, mà là nhận thức của các bộ, ngành, địa phương về vai trò, vị trí của biển đã có sự thay đổi rõ rệt. Biển không còn được nhìn đơn thuần như không gian khai thác tài nguyên, mà từng bước được đặt vào vị trí của một không gian phát triển tổng hợp, nơi các lợi ích kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại phải được xử lý trong một chỉnh thể thống nhất.
Từ chuyển động trong nhận thức ấy, các cực tăng trưởng kinh tế biển bắt đầu hiện lên rõ hơn trên dọc dài đất nước. Những trung tâm ven biển vốn giữ vai trò truyền thống trong công nghiệp, cảng biển, dịch vụ và du lịch nay đã chuyển mình trở thành các động lực tăng trưởng mới của cả nước. Đây không chỉ là sự mở rộng về quy mô kinh tế, mà còn cho thấy sự chuyển dịch mô hình phát triển theo hướng hiện đại, gắn kết chuỗi giá trị biển, dịch chuyển cơ cấu ngành và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên biển.
Khu vực duyên hải phía bắc tiếp tục là điểm sáng, với Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa duy trì tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 ở mức hai con số hoặc xấp xỉ hai con số, khẳng định vị thế cực tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ, logistics và du lịch. Tại miền trung, quá trình phục hồi diễn ra theo hai tốc độ: Các trung tâm dịch vụ, du lịch, công nghiệp lớn như Đà Nẵng, Khánh Hòa, Quảng Ngãi có đà tăng rõ hơn, trong khi một số địa phương vẫn còn độ trễ sau đại dịch Covid-19. Ở Đông Nam Bộ, nền tảng công nghiệp, cảng biển và logistics giúp Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vai trò đầu tàu.
Điểm chung của các địa phương không chỉ là tốc độ tăng trưởng cao, mà là sự hình thành các “tổ hợp kinh tế biển tích hợp”, nơi cảng biển-công nghiệp-dịch vụ logistics-đô thị ven biển tạo thành chuỗi giá trị liên kết. Đây là minh chứng cho việc khi được tổ chức đúng hướng, kinh tế biển không chỉ tạo tăng trưởng cho các địa phương ven bờ, mà còn lan tỏa vào vùng nội địa, thúc đẩy sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu và năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào các cực tăng trưởng thì chưa đủ. Thành tựu là quan trọng, nhưng chưa đủ để bảo đảm Việt Nam sẽ đạt mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển nếu không xử lý kịp thời các điểm nghẽn mang tính cấu trúc. Một số kết quả đã đạt được, nhưng chất lượng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; một số địa phương đi nhanh, nhưng liên kết vùng còn yếu; một số ngành tăng trưởng mạnh, nhưng sức ép lên môi trường, tài nguyên và hạ tầng cũng lớn dần.
Khoảng cách trước hết nằm ở mục tiêu phát triển. Nghị quyết 36 đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế của các tỉnh, thành phố ven biển phấn đấu đạt 65-70% GDP cả nước. Tuy nhiên, tỷ trọng GRDP của các địa phương ven biển trong tổng GRDP cả nước những năm gần đây vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Điều này cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn, nhưng khả năng chuyển hóa lợi thế biển thành động lực tăng trưởng quốc gia vẫn chưa thật sự tương xứng.
Điểm nghẽn tiếp theo nằm ở thể chế. Dù nhiều văn bản, chương trình, cơ chế đã được ban hành, khuôn khổ pháp lý cho phát triển kinh tế biển nhưng Việt Nam vẫn thiếu một đạo luật mang tính nền tảng - Luật Phát triển bền vững kinh tế biển - để định hình cấu trúc quản trị tổng thể và hệ thống công cụ pháp lý thống nhất.
Những lĩnh vực có tiềm năng lớn như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp xa bờ, khai thác khoáng sản biển sâu, kinh tế biển xanh vẫn cần một hành lang pháp lý rõ ràng, ổn định và đủ sức dẫn dắt đầu tư dài hạn.
Những lĩnh vực có tiềm năng lớn như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp xa bờ, khai thác khoáng sản biển sâu, kinh tế biển xanh vẫn cần một hành lang pháp lý rõ ràng, ổn định và đủ sức dẫn dắt đầu tư dài hạn. Khi cơ chế cấp phép, giao khu vực biển, đánh giá tác động môi trường, chia sẻ lợi ích, huy động vốn xanh còn thiếu đồng bộ, nhà đầu tư khó có thể yên tâm triển khai các dự án lớn, nhất là những dự án đòi hỏi công nghệ cao, vốn lớn và thời gian thu hồi dài.
Cùng với thể chế, hạ tầng biển và ven biển vẫn là một rào cản lớn. Tuyến đường ven biển bắc-trung-nam chưa hoàn thành liên thông, làm giảm khả năng kết nối giữa các cực tăng trưởng biển. Nhiều cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền, cơ sở hậu cần thủy sản chưa đáp ứng yêu cầu của nghề cá hiện đại, nhất là yêu cầu truy xuất nguồn gốc và chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định. Ở không ít nơi, cảng biển đã được đầu tư, nhưng kết nối sau cảng, trung tâm logistics, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và kho bãi vẫn chưa đồng bộ, khiến chi phí vận tải còn cao, sức cạnh tranh của hàng hóa chưa được cải thiện như kỳ vọng.
Đáng chú ý, hạ tầng cho khoa học-công nghệ biển còn mỏng. Những phòng thí nghiệm ven biển, tàu nghiên cứu chuyên dụng, trung tâm mô phỏng đại dương, khu thử nghiệm công nghệ biển sâu, hệ thống quan trắc hiện đại vẫn chưa tương xứng với yêu cầu phát triển. Trong khi đó, muốn tiến ra biển lớn, muốn phát triển điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, khai thác tài nguyên biển sâu, quản lý môi trường biển và dự báo thiên tai chính xác, Việt Nam không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống, mà phải dựa vào khoa học, công nghệ và dữ liệu.
Một điểm nghẽn đáng lo ngại khác là sự suy giảm của tài nguyên sinh vật biển, nhất là ở vùng ven bờ. Nguồn lợi thủy sản ở nhiều khu vực có dấu hiệu giảm sút; một số loài có giá trị kinh tế cao suy giảm mạnh; cấu trúc quần thể bị biến đổi theo hướng nhỏ hóa; cường lực khai thác ven bờ vẫn vượt quá khả năng chịu tải của hệ sinh thái. Tình trạng khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định tuy đã được kiểm soát quyết liệt hơn, nhưng chưa thể xử lý dứt điểm.
Sự suy giảm nguồn lợi biển không chỉ là vấn đề môi trường. Đó còn là vấn đề sinh kế, an ninh lương thực và ổn định xã hội ở vùng ven biển. Khi nguồn cá ven bờ cạn dần, chi phí đánh bắt tăng lên, thu nhập của ngư dân bị ảnh hưởng, áp lực chuyển đổi nghề trở nên cấp bách hơn. Nếu không có giải pháp căn cơ để phục hồi nguồn lợi, tổ chức lại khai thác, phát triển nuôi biển hiện đại và tạo sinh kế thay thế, nhiều cộng đồng ven biển sẽ đứng trước những khó khăn ngày càng lớn.
Nguồn nhân lực biển chất lượng cao đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển.
Nguồn nhân lực biển chất lượng cao cũng là một khoảng trống đáng kể. Quản trị biển hiện đại cần những chuyên gia am hiểu hải dương học, công nghệ biển sâu, điều tra khoáng sản biển, mô hình hóa khí hậu-hải văn, dữ liệu không gian biển, công nghệ môi trường biển, điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp và kinh tế biển xanh. Nhưng đội ngũ này hiện còn thiếu cả về số lượng và chất lượng. Nhiều ngành kinh tế biển mới nổi lên nhanh, trong khi hệ thống đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chưa kịp đáp ứng.
Sự thiếu hụt nhân lực không chỉ làm chậm quá trình tiếp nhận công nghệ, mà còn ảnh hưởng đến năng lực quản lý nhà nước. Khi nhiệm vụ quản trị biển ngày càng phức tạp, cơ quan quản lý cần đội ngũ đủ năng lực phân tích dữ liệu, đánh giá tác động môi trường, thẩm định dự án, xử lý xung đột không gian biển và dự báo rủi ro. Nếu thiếu nhân lực chuyên sâu, chính sách dù đúng hướng cũng khó đi vào thực tế với hiệu quả cao.
Cuối cùng là điểm nghẽn về điều phối liên ngành, liên vùng. Mặc dù đã có cơ chế điều phối được thiết lập ở cấp trung ương, việc chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương vẫn còn rời rạc, không kịp thời và thiếu chuẩn hóa. Nhiều quyết định sử dụng không gian biển vẫn được ban hành theo lợi ích cục bộ, dẫn đến xung đột giữa các ngành như điện gió-thủy sản-hàng hải-bảo tồn.
Những điểm nghẽn nêu trên cho thấy kinh tế biển Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Nếu không được tháo gỡ kịp thời, chúng có thể làm gia tăng chi phí phát triển, làm suy giảm nguồn lực tự nhiên và thu hẹp dư địa cạnh tranh của các ngành kinh tế biển. Ngược lại, nếu được xử lý bằng những bước đi mạnh, biển sẽ không chỉ là lợi thế tự nhiên, mà thật sự trở thành không gian phát triển xanh, hiện đại và bền vững của đất nước.
Ngày xuất bản: 8/6/2026
Chỉ đạo thực hiện: Đinh Song Linh
Nội dung: Tiến Đức, Bích Liên, Trần Thường, Ngọc Hiếu, Quang Thọ, Xuân Trường, Thanh Hải, Công Vinh
Trình bày: Trung Hưng
Ảnh: PVN, VIMC, Quang Thọ, Công Vinh, Thanh Hải
E-MAGAZINE
nhandan.vn
