toàn cầu
KHÁT VỌNG 2045:
CHUNG DÒNG MÁU VIỆT, TRIỆU CON TIM CÙNG NHỊP ĐẬP
Ngày 2/8/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW, lần đầu tiên khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là "nguồn lực chiến lược quan trọng", góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Đây cũng là một trong những lời giải cho nhiệm vụ phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia mà Nghị quyết số 57-NQ/TW vốn được ví như "Khoán 10" trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đã đặt ra trước đó.
Theo đó, cần ban hành cơ chế đặc thù thu hút người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ cao về nước làm việc, sinh sống. Đồng thời, trọng dụng các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia, "tổng công trình sư" có khả năng tổ chức, điều hành các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Từ những câu chuyện cụ thể, những con số và góc nhìn của các chuyên gia, vệt bài “Kết nối trí tuệ Việt toàn cầu, tạo nguồn lực phát triển đất nước” đi tìm lời giải cho bài toán đánh thức nguồn lực đang hiện diện ở khắp năm châu; đồng thời nhận diện những điểm nghẽn về thể chế, cơ chế tiếp nhận, đặt hàng và trọng dụng nhân tài cần được tháo gỡ.
Bởi để hiện thực hóa khát vọng phát triển đến năm 2045, nguồn lực của đất nước không chỉ nằm trong biên giới Việt Nam. Ở bất cứ nơi nào có người Việt sinh sống, sáng tạo và thành công, ở đó có thể là một phần của sức mạnh Việt Nam.
KẾT NỐI
TRÍ TUỆ VIỆT
TOÀN CẦU
Tạo nguồn lực phát triển đất nước
Từ bản hòa ca của thống nhất dân tộc cách đây nửa thế kỷ đến bản hòa ca của đổi mới, hội nhập và phát triển hôm nay, Việt Nam đang viết tiếp câu chuyện về khát vọng vươn lên. Trên hành trình hướng tới năm 2045, khi mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao đã trở thành điểm hội tụ của ý chí dân tộc, dòng máu Việt ở khắp mọi miền thế giới đang cùng hòa chung một nhịp đập vì tương lai đất nước.
Như lời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, mọi người con đất Việt, dù sinh sống ở đâu, dù có hoàn cảnh hay trải nghiệm khác nhau, đều có thể đồng hành, chung sức góp phần xây dựng một tương lai tươi sáng cho dân tộc. Tinh thần ấy được cụ thể hóa bằng những chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước trong việc mở rộng vòng tay, trân trọng mọi đóng góp và lắng nghe mọi tiếng nói xây dựng từ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, lực lượng đang góp phần kết nối Việt Nam với thế giới.
“Giữ gốc” và “mở đường” cho thế hệ tiếp nối
Nếu xem hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài là một nguồn lực chiến lược của quốc gia, thì câu hỏi đặt ra không chỉ là làm thế nào để kết nối cộng đồng hôm nay, mà còn là làm sao để duy trì và phát huy nguồn lực ấy trong các thế hệ tương lai.
Theo Tiến sĩ Trần Văn Khải, trong tầm nhìn hướng tới năm 2045, bài toán quan trọng không chỉ nằm ở việc huy động những chuyên gia đã thành danh, mà còn ở việc tạo điều kiện để thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài tham gia trực tiếp vào tiến trình đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và phát triển đất nước.
Ông cho rằng thế hệ trẻ hiện nay có nhiều khác biệt so với thế hệ cha anh. Nhiều em sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, tiếng Việt không còn là ngôn ngữ thành thạo nhất. Vì vậy, cần thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: “giữ gốc” và “mở đường”.
Mục tiêu đến năm 2045 không nên chỉ dừng lại ở việc kêu gọi người trẻ trở về, mà quan trọng hơn là để Việt Nam trở thành một trong những lựa chọn hàng đầu khi họ tìm kiếm nơi hiện thực hóa những khát vọng lớn nhất của mình.
“Giữ gốc” trước hết là đầu tư cho tiếng Việt và văn hóa Việt Nam như một loại hạ tầng mềm để duy trì mối liên kết với quê hương. Nhưng bản sắc dân tộc không chỉ được nuôi dưỡng bằng ký ức hay truyền thống, mà còn bằng niềm tự hào về những thành tựu mới. Khi chứng kiến người Việt làm chủ công nghệ tiên tiến, tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh toàn cầu, thế hệ trẻ sẽ có thêm lý do để tự hào về nguồn cội của mình.
Song song với đó là việc “mở đường” bằng những cơ hội tham gia thực chất. Đó có thể là các chương trình thực tập nghiên cứu tại viện, trường và doanh nghiệp công nghệ trong nước; các dự án khoa học, lập trình, khởi nghiệp; học bổng đồng hướng dẫn giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước; hay những mạng lưới đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử, an ninh mạng và hàng không vũ trụ.
Theo Tiến sĩ Trần Văn Khải, mục tiêu đến năm 2045 không nên chỉ dừng lại ở việc kêu gọi người trẻ trở về, mà quan trọng hơn là để Việt Nam trở thành một trong những lựa chọn hàng đầu khi họ tìm kiếm nơi hiện thực hóa những khát vọng lớn nhất của mình.
Tiến sĩ Hồng Hà tham gia các dự án nghiên cứu, giới thiệu và quảng bá văn hóa dân tộc. (Ảnh: Khải Hoàn)
Tiến sĩ Hồng Hà tham gia các dự án nghiên cứu, giới thiệu và quảng bá văn hóa dân tộc. (Ảnh: Khải Hoàn)
Từ thực tiễn nhiều năm gắn bó với cộng đồng người Việt tại Hàn Quốc, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà cũng nhận thấy, khi đồng bào cảm nhận được sự tin cậy, tôn trọng và bình đẳng trong đóng góp, tinh thần hướng về quê hương sẽ được khơi dậy một cách tự nhiên. Khi đó, sức mạnh cộng đồng không chỉ nằm ở số lượng hay tiềm lực tài chính, mà nằm ở niềm tin và khả năng cùng hành động vì những mục tiêu chung.
Cách tiếp cận này cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng, từ việc coi kiều bào là “đối tượng của chính sách” sang xem họ là “chủ thể tham gia phát triển”.
Theo bà, đầu tư cho tiếng Việt, văn hóa và thế hệ trẻ chính là bảo đảm cho sự gắn kết bền vững giữa đất nước với các thế hệ kiều bào tương lai. Bên cạnh đó, tinh thần hòa hợp, cầu thị và trân trọng cần được thể hiện ngày càng rõ nét để bất kỳ người Việt Nam nào có mong muốn đóng góp cũng có thể tìm thấy một cánh cửa rộng mở.
Từ những cá nhân thành công đến hệ sinh thái người Việt toàn cầu
Không chỉ dừng lại ở việc thu hút nguồn lực riêng lẻ, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam cần xây dựng những cơ chế kết nối mang tính hệ thống.
Theo Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà, giai đoạn tới cần chuyển từ cơ chế “mời gọi chung” sang cơ chế “đặt hàng cụ thể”, trong đó mỗi bài toán phát triển đều gắn với những nhu cầu rõ ràng về chuyên gia, công nghệ và nguồn lực. Bà cũng đề xuất mô hình “mỗi chuyên gia - một nhóm kế cận”, để mỗi đóng góp không chỉ mang lại giải pháp trước mắt mà còn tạo dựng năng lực nội sinh lâu dài cho đất nước.
Từ kinh nghiệm hoạt động của Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc (VKBIA) và Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc (VKEIA), Tiến sĩ Trần Hải Linh cho rằng các mạng lưới kết nối nên được tổ chức theo ngành nghề và theo dự án cụ thể thay vì kết nối dàn trải.
Theo ông, với từng lĩnh vực chiến lược như bán dẫn, công nghệ sinh học hay chuyển đổi số, cần tập hợp đúng nhóm chuyên gia, doanh nghiệp, nhà đầu tư và đối tác quốc tế để giải quyết những nhu cầu cụ thể của Việt Nam.
Tiến sĩ Trần Hải Linh.
Tiến sĩ Trần Hải Linh.
Ông nhận định rằng khi Nghị quyết 23 được triển khai đồng bộ và thực chất, Việt Nam có thể hình thành một hệ sinh thái người Việt toàn cầu, nơi Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, các tổ chức làm nhiệm vụ kết nối, doanh nghiệp mở đường, trí thức dẫn dắt tri thức, còn thế hệ trẻ tiếp nối bản sắc dân tộc.
Câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc kết nối cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Để khát vọng ấy trở thành hiện thực, câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc kết nối cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, mà còn là xây dựng một hệ sinh thái đủ mạnh để chuyển hóa tri thức, công nghệ và các nguồn lực toàn cầu thành động lực phát triển quốc gia.
Con người được xem là yếu tố cốt lõi tạo nên thành công của FPT.
Con người được xem là yếu tố cốt lõi tạo nên thành công của FPT.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải, một Việt Nam phát triển vào năm 2045 không chỉ cần nhiều nguồn lực vật chất, mà cần một năng lực quan trọng hơn: năng lực tạo ra tri thức, công nghệ và giá trị mới.
Từ góc nhìn đó, ông hình dung một hệ sinh thái trí tuệ Việt Nam trong tương lai sẽ không bị giới hạn bởi biên giới địa lý. Đó là một mạng lưới mở, nơi các nhà khoa học trong nước và quốc tế, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và Nhà nước cùng tham gia vào quá trình phát triển.
Trong hệ sinh thái ấy, nhà khoa học tạo ra tri thức và công nghệ; các trường đại học, viện nghiên cứu đào tạo nhân lực và xây dựng nền tảng khoa học; doanh nghiệp chuyển công nghệ thành sản phẩm và thị trường; còn Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chiến lược, chính sách và hạ tầng phát triển. Khi các thành phần này được kết nối hiệu quả, Việt Nam không chỉ có những dự án nghiên cứu riêng lẻ mà có thể hình thành những chuỗi giá trị công nghệ hoàn chỉnh.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải, mục tiêu của hợp tác quốc tế cũng cần được thay đổi theo hướng chủ động hơn. Hợp tác không chỉ nhằm tìm kiếm công nghệ để tiếp nhận hay nhập khẩu, mà phải hướng tới cùng nghiên cứu, cùng phát triển và từng bước làm chủ công nghệ. Đến năm 2045, Việt Nam không chỉ là nơi tiếp nhận tri thức từ thế giới mà còn trở thành một chủ thể có đóng góp trong dòng chảy tri thức toàn cầu.
Tinh thần sâu xa nhất của Nghị quyết 23 chính là xây dựng một cách nhìn mới: không chỉ thu hút nhân tài mà là kết nối nhân tài.
Một nhà khoa học Việt Nam tại Singapore có thể cùng phát triển công nghệ với đồng nghiệp trong nước. Một chuyên gia tại Hoa Kỳ có thể kết nối doanh nghiệp Việt Nam với thị trường quốc tế. Một nhà nghiên cứu tại châu Âu có thể tham gia đào tạo thế hệ kỹ sư trẻ. Khi đó, khoảng cách địa lý không còn là giới hạn của sự đóng góp.
Theo ông, tinh thần sâu xa nhất của Nghị quyết 23 chính là xây dựng một cách nhìn mới: không chỉ thu hút nhân tài mà là kết nối nhân tài; không chỉ chuyển giao công nghệ mà là đồng sáng tạo công nghệ; không chỉ tiếp nhận tri thức của thế giới mà từng bước cùng thế giới tạo ra tri thức mới. Đó cũng là nền tảng để Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thực tế những năm qua cho thấy khái niệm “trở về” cũng đang được hiểu theo nghĩa rộng hơn trước. Từ Giáo sư Trần Thanh Vân, Tiến sĩ Lê Viết Quốc đến nhiều trí thức, doanh nhân người Việt trên thế giới, ngày nay việc đóng góp cho đất nước không nhất thiết phải gắn với sự hiện diện thường trực tại Việt Nam. Một chuyên gia có thể không hồi hương lâu dài nhưng vẫn tư vấn, đào tạo, chuyển giao công nghệ và mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế cho quê hương.
Mô hình kết nối nhân tài và đồng sáng tạo công nghệ cũng hiện diện trong hành trình vươn ra toàn cầu của nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam. Câu chuyện toàn cầu hóa của Tập đoàn FPT là một minh chứng cụ thể cho hướng đi ấy. Từ thương vụ M&A đầu tiên trong lĩnh vực công nghệ thông tin của một doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài, mua lại RWE IT Slovakia năm 2014 để hình thành FPT Slovakia, đến việc sở hữu 90% cổ phần Intellinet Consulting tại Mỹ năm 2018, một trong những công ty tư vấn công nghệ tăng trưởng nhanh nhất nước này với nhiều khách hàng thuộc nhóm Fortune 500, và sau đó là chuỗi thương vụ M&A tại Nhật Bản, Pháp… doanh nghiệp này đã xây dựng được các nhóm chuyên gia đa quốc gia, kết hợp giữa chuyên gia nước sở tại, chuyên gia người Việt ở nước ngoài và đội ngũ kỹ sư trong nước để phát triển các giải pháp, dịch vụ công nghệ trong lĩnh vực AI, tự động hóa, dữ liệu và chuyển đổi số.
FPT mua Next Advanced Communications (NAC), thương vụ M&A đầu tiên của Tập đoàn tại thị trường Nhật Bản.
FPT mua Next Advanced Communications (NAC), thương vụ M&A đầu tiên của Tập đoàn tại thị trường Nhật Bản.
Những kết quả này không chỉ được thể hiện qua các công bố khoa học, sáng chế, giải pháp, dịch vụ công nghệ mới mà còn chuyển hóa thành các hợp đồng có giá trị hàng chục, thậm chí là hàng trăm triệu USD, mở rộng thị trường quốc tế và góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp công nghệ Việt trên bản đồ công nghệ toàn cầu. Cuối năm 2023, FPT trở thành doanh nghiệp công nghệ đầu tiên của Việt Nam cán mốc doanh thu 1 tỷ USD từ dịch vụ công nghệ thông tin tại thị trường nước ngoài.
Kết quả này không chỉ phản ánh sự trưởng thành của một doanh nghiệp, mà còn cho thấy khi nguồn lực tri thức, công nghệ và nhân tài Việt Nam được kết nối hiệu quả với các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn cầu, những mục tiêu từng được xem là tham vọng hoàn toàn có thể trở thành hiện thực.
Theo Quyết định 982/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hỗ trợ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ số đạt doanh thu từ thị trường nước ngoài tối thiểu 1 tỷ USD/năm.
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ số đạt doanh thu từ thị trường nước ngoài tối thiểu 1 tỷ USD/năm.
Tinh thần ấy cũng chính là điều Nghị quyết 23 hướng tới: phát huy những điểm tương đồng, đề cao hòa hợp dân tộc, gác lại khác biệt của quá khứ để hướng tới tương lai; đồng thời tạo ra cơ chế để mọi người Việt Nam, dù ở trong nước hay nước ngoài, đều có thể tham gia vào công cuộc phát triển đất nước.
Mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 chỉ thực sự trở thành sức mạnh khi hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước và hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài cùng coi đó là một giấc mơ chung, là tương lai mà mình muốn góp phần tạo dựng. Như kỳ vọng của Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, điều đáng tự hào nhất vào năm 2045 không chỉ là Việt Nam trở nên thịnh vượng hơn, mà còn là việc người Việt Nam trên toàn thế giới đã cùng nhau làm nên sự thịnh vượng ấy.
Điều đáng tự hào nhất vào năm 2045 không chỉ là Việt Nam trở nên thịnh vượng hơn, mà còn là việc người Việt Nam trên toàn thế giới đã cùng nhau làm nên sự thịnh vượng ấy.
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng
Khi kết nối kiều bào trở thành sức mạnh của đối ngoại
Nếu hệ sinh thái trí tuệ Việt Nam toàn cầu là đích đến, thì đối ngoại và hội nhập quốc tế chính là hạ tầng kết nối để những nguồn lực ấy gặp nhau, lan tỏa và tạo ra giá trị mới cho đất nước.
Đại hội XIV xác định mô hình tăng trưởng mới của đất nước lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đồng thời yêu cầu chủ động đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ, thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài; ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng và làm chủ công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và công nghệ nguồn.
Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, yêu cầu phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của đối ngoại trong sự nghiệp phát triển đất nước tiếp tục được nhấn mạnh. Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, điều đó đồng nghĩa với việc chuyển trọng tâm từ thu hút vốn sang thu hút tri thức, công nghệ và nhân tài; từ tiếp nhận sang nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trong nước.
Phát biểu tại phiên họp chuyên đề về ngoại giao khoa học-công nghệ, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung khẳng định đây đang trở thành một trụ cột quan trọng của nền ngoại giao phục vụ phát triển. Ngoại giao khoa học-công nghệ không chỉ có nhiệm vụ mở đường và kết nối, mà còn góp phần nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ chiến lược, bảo đảm an ninh công nghệ và nâng cao vị thế quốc gia trong trật tự công nghệ mới.
Hội nghị ngoại giao lần thứ 33. (Ảnh: Trần Hải)
Hội nghị ngoại giao lần thứ 33. (Ảnh: Trần Hải)
Ngoại giao khoa học-công nghệ đang trở thành một trụ cột quan trọng của nền ngoại giao phục vụ phát triển.
Những kết quả bước đầu thể hiện ở việc mở rộng khuôn khổ hợp tác với các trung tâm khoa học-công nghệ hàng đầu thế giới; kết nối các tập đoàn công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học và quỹ đầu tư quốc tế với Việt Nam; hỗ trợ địa phương và doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu; đồng thời thúc đẩy mạng lưới trí thức người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng đi vào chiều sâu.
Từ góc nhìn của ngành khoa học và công nghệ, Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho rằng hiệu quả của ngoại giao khoa học không thể chỉ đo bằng số lượng quan hệ được thiết lập, mà phải được thể hiện bằng những công nghệ được chuyển giao, những thị trường mới được mở rộng và mức độ tự chủ công nghệ của quốc gia.
Một trong những thước đo cụ thể cho mức độ tự chủ công nghệ chiến lược đang dần hiện diện. Giải thưởng Âu Lạc Grand Prize, giải công nghệ AI trị giá 1 triệu USD, hiện thuộc nhóm giải thưởng lớn nhất Việt Nam trong lĩnh vực này do Liên minh AI Âu Lạc khởi xướng với sự tài trợ của Tập đoàn FPT, được lập ra để tôn vinh chính những sản phẩm, giải pháp AI do người Việt làm chủ.
Giải thưởng Âu Lạc.
Giải thưởng Âu Lạc.
Tại lễ công bố giải thưởng, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Anh Tuấn đánh giá đây là sáng kiến thiết thực, góp phần cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước về khoa học công nghệ, đồng thời là cầu nối hiệu quả giữa các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nhân công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước.
“Thực hiện các nghị quyết của Đảng về đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, và xác định trí tuệ nhân tạo là một trong những công nghệ nền tảng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, ngoại giao khoa học công nghệ đã trở thành một mũi nhọn mới, tập trung vào nội hàm đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, góp phần hiện thực hóa xây dựng 11 công nghệ chiến lược theo Quyết định 1131, đóng góp thực chất vào việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW. Trong bối cảnh đó, việc tổ chức Giải thưởng Âu Lạc Grand Prize của Liên minh AI Âu Lạc và sự tài trợ của Tập đoàn FPT là một sáng kiến có ý nghĩa thiết thực, góp phần cụ thể hóa các quyết sách quan trọng của Đảng và Nhà nước, đồng thời tạo ra một không gian kết nối hiệu quả giữa nghiên cứu, ứng dụng và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Thông qua giải thưởng, trí tuệ Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới có thêm một không gian để gắn kết, cống hiến và đồng hành cùng sự phát triển của đất nước”, Thứ trưởng Lê Anh Tuấn chia sẻ.
Nếu Âu Lạc Grand Prize là một không gian kết nối cụ thể ở quy mô một giải thưởng, thì câu hỏi đặt ra là làm sao để có một hạ tầng kết nối trí tuệ Việt Nam trên toàn cầu ở quy mô quốc gia.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, trong giai đoạn mới, đối ngoại và hội nhập quốc tế cần được nhìn nhận như một hạ tầng kết nối những nguồn lực tốt nhất của thế giới với sự phát triển của Việt Nam. Trong hạ tầng đó, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giữ vị trí đặc biệt.
Ông đề xuất mỗi cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần trở thành một “trạm kết nối phát triển”, có khả năng nhận diện nhân tài, kết nối doanh nghiệp và nhà đầu tư, tìm kiếm công nghệ, phát hiện cơ hội thị trường và đưa những nguồn lực đó đến với các bộ, ngành, địa phương, trường đại học và doanh nghiệp trong nước.
Mỗi cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần trở thành một “trạm kết nối phát triển”.
Qua đó hình thành một vòng tuần hoàn phát triển: đối ngoại mở ra không gian mới, kiều bào tạo kết nối, trong nước hấp thụ nguồn lực, còn năng lực quốc gia không ngừng được nâng cao.
Đồng bộ hành động để hiện thực hóa khát vọng 2045
Kết luận phiên họp về ngoại giao khoa học-công nghệ tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Đại tướng, Bộ trưởng Công an Lương Tam Quang nhấn mạnh tầm quan trọng của việc triển khai đồng bộ các chủ trương lớn của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo ông, trong giai đoạn mới cần thay đổi mạnh mẽ tư duy triển khai, chuyển từ tư duy tiếp nhận hỗ trợ sang hợp tác cùng có lợi; từ thu hút vốn đầu tư sang thu hút tri thức, công nghệ và chuyên gia; từ hoàn thiện thể chế sang tổ chức thực hiện với những kết quả cụ thể, có thể đo lường được.
Trong giai đoạn mới cần thay đổi mạnh mẽ tư duy triển khai, chuyển từ tư duy tiếp nhận hỗ trợ sang hợp tác cùng có lợi; từ thu hút vốn đầu tư sang thu hút tri thức, công nghệ và chuyên gia; từ hoàn thiện thể chế sang tổ chức thực hiện với những kết quả cụ thể, có thể đo lường được.
Bộ trưởng Lương Tam Quang cũng đề nghị các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phát huy vai trò kiến tạo phát triển, chủ động xây dựng mạng lưới chuyên gia, đối tác, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược; đồng thời trở thành những đầu mối kết nối tin cậy cho doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.
Song song với đó, các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp trong nước cần chủ động chuẩn bị dự án, nguồn nhân lực, cơ chế và điều kiện tiếp nhận để biến cơ hội bên ngoài thành nguồn lực phát triển thực chất.
Giải thưởng Âu Lạc.
Giải thưởng Âu Lạc.
Bởi cuối cùng, ngoại giao khoa học-công nghệ chỉ có thể phát huy hiệu quả khi ba mắt xích cùng vận hành đồng bộ: cơ quan quản lý xác định đúng nhu cầu và ưu tiên phát triển; hệ thống đối ngoại làm nhiệm vụ tìm kiếm và kết nối; còn các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp đủ năng lực tiếp nhận, làm chủ và thương mại hóa công nghệ.
Tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ về “Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững” (Thông báo số 157-TB/ VPTW ngày 26/8/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Thu hút và trọng dụng nhân tài gắn liền với sự hưng vong của mọi quốc gia, dân tộc”. Mục tiêu đến năm 2030, 2045, thu hút khoảng 1.000 nhân tài theo từng ngành, lĩnh vực và nhiệm vụ chiến lược; xác định rõ cơ quan, tổ chức sử dụng, vị trí hoặc nhiệm vụ được giao, sản phẩm kỳ vọng và tiêu chí đánh giá đối với nhân tài; coi trọng kết quả, giá trị và tác động thực tế do nhân tài tạo ra.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Đảng ủy Chính phủ về “Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”. (Ảnh: Đăng Khoa)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Đảng ủy Chính phủ về “Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”. (Ảnh: Đăng Khoa)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ một số nhiệm vụ trọng tâm: Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chiến lược làm định hướng cao nhất.
Chú trọng đào tạo tài năng trẻ và thu hút chuyên gia đầu ngành; đẩy mạnh chia sẻ nguồn lực nhân tài giữa các địa bàn, lĩnh vực, khu vực công và khu vực tư, giữa trong nước và quốc tế. Quan tâm thu hút chuyên gia quốc tế và trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời tập trung phát hiện, nuôi dưỡng và phát triển tài năng trong nước. Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút nhân tài tương xứng với năng lực, nhiệm vụ và kết quả; nghiên cứu ban hành “Thị thực nhân tài Việt Nam”.
Đổi mới quản trị, phân cấp mạnh mẽ trong công tác thu hút, sử dụng nhân tài. Người đứng đầu chịu trách nhiệm phát hiện, lựa chọn, bố trí, giao nhiệm vụ và tạo môi trường làm việc cho nhân tài; đồng thời, chịu trách nhiệm nếu sử dụng người không đúng năng lực hoặc để mất người giỏi.
Khát vọng Việt Nam 2045 là hành trình hội tụ sức mạnh của hơn 100 triệu người Việt trong nước và hàng triệu người Việt Nam ở nước ngoài.
Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nhân tài, gắn với hạ tầng quản trị hiện đại, liên thông, đồng bộ với dữ liệu giáo dục, khoa học, công nghệ, việc làm và thị trường lao động. Nâng cao năng lực nội sinh trong đào tạo bồi dưỡng nhân tài. Chính sách nhân tài phải gắn chặt với yêu cầu phát triển sản xuất, làm chủ công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Khát vọng Việt Nam 2045 vì thế không chỉ là câu chuyện của tăng trưởng kinh tế hay những con số phát triển. Đó là hành trình hội tụ sức mạnh của hơn 100 triệu người Việt trong nước và hàng triệu người Việt Nam ở nước ngoài. Khi những dòng chảy tri thức, công nghệ, nguồn lực và tình yêu quê hương gặp nhau trong một mục tiêu chung, khát vọng thịnh vượng của dân tộc sẽ có thêm động lực để trở thành hiện thực.
Ngày xuất bản: 2/9/2026
Thực hiện: Hồng Vân, Thiên Lam, Thanh Huyền, Quỳnh Lan, Ngọc Diệp
Ảnh: Nhân vật cung cấp, FPT, TTXVN
Kết nối trí tuệ Việt toàn cầu, tạo nguồn lực phát triển đất nước
Vệt bài “Kết nối trí tuệ Việt toàn cầu, tạo nguồn lực phát triển đất nước” đi tìm lời giải cho bài toán đánh thức nguồn lực đang hiện diện ở khắp năm châu.