Gần 60 năm, bà Nguyễn Thị Lệ vẫn giữ đôi hoa tai và chiếc nhẫn kỷ niệm người nhà Huỳnh Văn Quên trao cho mình ngày ông ra trận. Người đàn ông hứa “đánh thắng trận này anh sẽ về cưới em” đã không trở về. 58 năm qua, bà vẫn sống như thể lời hứa ấy chưa bao giờ kết thúc.
Những người con của liệt sĩ Lê Thị Riêng, Trần Văn Kiểu, Tô Hoài Thanh… cũng mang theo những khoảng trống không thể lấp đầy về cha, mẹ. Nhiều người đã đi gần hết cuộc đời trong một mong mỏi duy nhất là tìm thấy hài cốt người thân.
Cuộc khai quật tại Công viên Lê Thị Riêng, nơi từng là nghĩa địa Chí Hòa, sau gần 60 năm đã đánh thức những ký ức về Mậu Thân 1968 và những cuộc chờ đợi chưa bao giờ kết thúc.
Lịch sử không chỉ được viết nên từ những trận chiến hào hùng, mà còn bằng tấm lòng sắt son của hậu phương hướng ra tiền tuyến. Câu chuyện của bà Nguyễn Thị Lệ dành cho liệt sĩ Huỳnh Văn Quên là một khúc tình ca bi tráng kéo dài hơn nửa thế kỷ.
Bà Nguyễn Thị Lệ và ông Huỳnh Văn Quên gặp nhau năm 1965, khi đơn vị của người chiến sĩ đóng quân gần nhà bà. Những năm tháng hoạt động cùng nhau ngắn ngủi, nhưng tình cảm mến thương đã kết nối trái tim của 2 người trẻ. Trước khi lên đường để vào nội thành cho một nhiệm vụ đặc biệt, ông vẫn lạc quan gửi lại người yêu lời hứa "Đánh thắng trận này anh sẽ về cưới em".
Gần 6 thập kỷ trôi qua, bà Lệ vẫn giữ bên mình chiếc nhẫn kỷ niệm năm xưa cùng lời hẹn ước với ông Quên.
Gần 6 thập kỷ trôi qua, bà Lệ vẫn giữ bên mình chiếc nhẫn kỷ niệm năm xưa cùng lời hẹn ước với ông Quên.
Năm 1968, ông Quên không trở về. Nhưng phải đến giải phóng, bà Lệ mới thật sự tin điều nghiệt ngã ấy. Nhưng bà bảo: “Đã hứa với nhau, thì sao có thể bỏ”. Cuộc sống một mình, có lúc buồn thương, nhưng bà trọn lời thề son sắt. Hơn nửa thế kỷ qua, gia đình nhà ông Quên coi bà là con cháu trong nhà. Cũng ngần ấy thời gian, bà chưa từng một lần gỡ xuống đôi hoa tai và chiếc nhẫn kỷ niệm mang trên mình mà cha ông Quên đã trao gửi như một lời công nhận dành cho con dâu…
Bà cứ thế, lầm lũi sống một mình trong căn nhà nhỏ tại quê nhà ở Tây Ninh, cách nhà ông Quên chừng vài km. Bảy tháng qua, bà được con gái nuôi đón về ở trong một căn nhà được dựng tạm với tấm lợp pro-xi-măng. Ở tuổi gần 80, bà chưa thôi ngừng mong nhớ…
Nếu bà Lệ chờ người mình yêu trở về để giữ trọn một lời hứa, thì có những người con của các liệt sĩ lại chờ cha, mẹ từ khi họ còn chưa kịp có một ký ức trọn vẹn. Với họ, chiến tranh không chỉ lấy đi một người thân, mà còn để lại những khoảng trống kéo dài qua nhiều thế hệ.
Chiến tranh không chỉ lấy đi một người thân, mà còn để lại những khoảng trống kéo dài qua nhiều thế hệ.
Ký ức chung của những người con về cha mẹ mình tham gia hoạt động bí mật trong nội thành Sài Gòn khi xưa rất mờ nhạt. Vài tuổi, họ đã mất cha, mẹ. Có người mất cha khi vừa chào đời 20 ngày. Thậm chí, có người còn chẳng từng biết mình có cha trên đời cho tới khi ông mất. Nhiều năm, họ sống với thân phận con hoang, con nuôi, với những năm tháng sống chui lủi, chuyển nhà và những tủi hờn vì tấm giấy khai sinh để trống phần tên và họ cha.
Nhưng dù ký ức có thể phai mờ, một mong mỏi vẫn còn nguyên: được một lần tìm thấy cha, mẹ và đưa người thân trở về sau gần 60 năm xa cách.
Trong ký ức của bà Trần Thị Lệ Thu, con gái liệt sĩ Trần Văn Kiểu (Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Khu ủy viên kiêm Phó Trưởng ban Công vận Sài Gòn - Gia Định, bí danh Chín K), bà chưa bao giờ được gọi một tiếng ba trong đời. Bà lớn lên với mặc cảm, tủi hờn ba bỏ đi theo người khác, nhưng đâu biết đó là nỗi oan khuất người mẹ cất giấu vào trong để bảo vệ gia đình.
Bà Thu chỉ có ký ức về Bác Hai, người thi thoảng về thăm hai mẹ con, hiền lành, ít nói và không quên mua cho bà tập vở, bánh kẹo cùng lời dặn dò học hành chăm chỉ. Mãi sau này, bà mới biết Bác Hai chính là ba mình. Những cuộc gặp chớp nhoáng vài chục phút, ít ỏi của tuổi thơ trở thành nỗi đau thương dai dẳng suốt hơn nửa thập kỷ qua. Càng khắc khoải hơn, khi mẹ một mình ở vậy nuôi 2 anh em khôn lớn trong muôn vàn gian khó, với một tâm nguyện mong mỏi tìm được hài cốt của chồng. “Chỉ tiếc, mẹ đã không thể chờ đợi được từ 5 năm trước”, bà Thu lặng người, nuốt nước mắt vào trong.
Ngóng tin về phần hài cốt của cha - liệt sĩ Tô Hoài Thanh (bí danh Ba Thanh) đến ngẩn ngơ người, bà Tô Thị Mai Hương chỉ có thể chắp nối hình dung về cha qua những mảnh ký ức của người khác, trong đó có nữ biệt động Chín Nghĩa - người đã chứng kiến thủ trưởng Ba Thanh hy sinh ngay trong vòng tay mình tại trận đánh vào cổng sau Dinh Độc Lập trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Bà Mai Hương chỉ có thể hình dung về cha là một người chỉ huy mộc mạc, sống hết mình vì đồng đội và đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng ngay cửa ngõ Dinh Độc Lập. Bà chưa từng biết mình có ba khi ông còn sống, chưa từng một lần trong đời được gọi tiếng “ba ơi!”. Điều day dứt ấy, cũng giống như bà Trần Thị Lệ Thu khi phải sống ẩn giật suốt nhiều năm tháng, cha mẹ trước mặt mà không dám gọi tiếng thân thương hay sà vào lòng như những đứa trẻ khác. Niềm an ủi lớn nhất xoa dịu tuổi thơ cô đơn, tủi hờn của bà Hương, có lẽ chính là được nghe mẹ (nữ quân báo Nguyễn Thị Cúc) nói: "Nếu ba mày thấy được mày thì thương mày dữ lắm”.
Sau này, những sang chấn tinh thần của cuộc sống khiến bà trở thành người nhớ nhớ, quên quên. Nhưng có một điều bà không bao giờ có thể quên, chính là ước nguyện của người mẹ chưa hoàn thành tâm nguyện tìm được hài cốt của chồng. “Năm nào tôi cũng chở mẹ lên nghĩa trang, thắp hương ở mộ gió. Nhưng tôi biết, mẹ tôi vẫn mong đợi bố và được chôn cất bên cạnh ông”, bà Hương nói, mắt đỏ hoe.
May mắn hơn bà Thu hay bà Hương, ông Lê Chí Công mang theo được những yêu thương mà người mẹ Lê Thị Riêng dành tặng cho ông là cuốn album ảnh trước khi dự cảm được những ngày tháng rực lửa sắp tới. Tình yêu được bà gửi gắm qua từng bức ảnh, từng dòng chữ, trở thành điểm tựa cho ông đi suốt chặng đường sau này.
Mẹ Lê Thị Riêng nhắc đi nhắc lại về một ước mơ: "Tôi ước mơ một ngày xuân thống nhất được gặp con và được ôm ấp vỗ về". Đất nước đã thống nhất, nhưng người mẹ đã không còn cơ hội để ôm ấp 2 người con trai mình. Ông Công vẫn giữ nguyên vẹn những kỷ vật, kể cả đôi vỏ gối bà thêu những hình con thú ngộ nghĩnh và tên từng con trai mình.
Bao năm nay, ông biết, mẹ mình nằm dưới lòng đất sâu thẳm ở khu Công viên Lê Thị Riêng. Anh trai của ông mất sớm, không chờ được ngày tìm mẹ về đoàn tụ với ba. Còn ông, dù trải qua nhiều sóng gió về sức khỏe, ông chưa ngừng hy vọng sớm tìm được mẹ để đưa mẹ về nằm bên cạnh bố là liệt sĩ Lê Trọng Tam tại Nghĩa trang liệt sĩ thành phố.
58 năm qua, những người con trong lòng thành phố vẫn chưa thôi ngừng tìm kiếm các thông tin về cha, mẹ, người thân của mình đã nằm lại vĩnh viễn sau trận Mậu Thân 1968. Lớn lên và hy sinh ngay trên mảnh đất thân thuộc, chỉ cách gia đình quãng đường ngắn ngủi trở thành nỗi tiếc thương đi qua nhiều thế hệ, từ người vợ mất chồng, con mất cha và những người cháu chào đời cũng mơ hồ về ông mình.
Giờ đây, khi mẹ mình đã lẫn lẫn, quên quên, anh Tô Duy Khôi (con duy nhất của bà Tô Thị Mai Hương, cháu ngoại liệt sĩ Tô Hoài Thanh) trở thành người tiếp tục chặng đường tìm kiếm hài cốt ông mình và lưu giữ những ký ức được bà ngoại (nữ quân báo Vũ Thị Cúc) kể lại.
Cuộc tìm kiếm người ông nội mang tên Nguyễn Văn Đệ (đang được xác minh là chiến sĩ biệt động mang tên Đực) của Nguyễn Duy cũng đã kéo dài qua nhiều năm tháng chỉ mong ông được xác minh đúng danh phận là người của ta cài vào lòng địch với vị trí là lái xe cho Tòa Đại sứ Mỹ.
“Ông tôi mất không biết chôn ở đâu, bà nội tôi chưa từng được công nhận là vợ liệt sĩ. Gia đình bao năm đau đáu vì không có giấy tờ gì để chứng minh được thân phận của ông. Gia đình chỉ cần biết được thật sự danh phận của ông, không trông mong chế độ gì”, Duy đau đáu nói.
Cháu ngoại liệt sĩ Ngô Văn Cáng
Dương Minh Duy – cháu ngoại liệt sĩ Ngô Văn Cáng (Bí danh khi hoạt động là Cán) cũng đã đi tìm ông bằng ngoại cảm mấy chục năm ở các nghĩa trang từ nam ra bắc, nhưng lần này, anh thêm nhiều phần hy vọng tìm hài cốt của ông khi vừa được xác minh ông ngoại chính là liệt sĩ biệt động Cán, hy sinh trong trận đánh Xuân Mậu Thân 1968. “Vậy là ông tôi hy sinh ngay trong lòng thành phố. Cảm giác tìm được ông đến gần quá rồi”, Duy ôm chặt đôi vai người mẹ đang khóc nấc từng hồi.
Những người như Dương Minh Duy đang tiếp tục câu chuyện mà cha mẹ, ông bà mình đã bắt đầu từ gần 60 năm trước. Chỉ khác, họ không còn đi tìm một ký ức mơ hồ mà đang đi tìm một phần lịch sử của chính gia đình mình để mong tìm phần hài cốt của người đã khuất.
Trong dòng chảy ký ức, những người lính biệt động Sài Gòn năm xưa cũng chưa bao giờ thôi khắc khoải về đồng đội đã ngã xuống. Bà Vũ Thị Minh Nghĩa (Chín Nghĩa), nữ chiến sĩ duy nhất tấn công vào Dinh Độc Lập năm 1968, đến nay vẫn bị ám ảnh bởi khoảnh khắc chứng kiến các đồng đội của mình ngã quỵ ngay trước mắt.
Đêm 30 rạng sáng 31/1/1968, các lực lượng vũ trang Sài Gòn-Gia Định đồng loạt tiến công những mục tiêu trọng yếu trong nội đô. Các chiến sĩ biệt động đánh vào những nơi được xem là bất khả xâm phạm như Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh... Nhiều người đã chiến đấu đến cùng và ngã xuống ngay giữa lòng thành phố.
Hai lần tiến công đã làm cho cả nước Mỹ rúng động, làm cho chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ bị phá sản, làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi lại bàn đàm phán tại Paris, mở ra khả năng cho ta thực hiện chiến lược "Ðánh cho Mỹ cút", tiến tới "đánh cho ngụy nhào", giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.
Thế nhưng, tổn thất và hy sinh của chúng ta trong cuộc tiến công này không hề nhỏ. Mậu Thân 1968 đã biến Sài Gòn thành chiến trường khốc liệt. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, lực lượng hy sinh rất nhiều. Trong đó có 3 lực lượng chính gồm đặc công, bộ đội chủ lực và lực lượng hoạt động bí mật trong nội thành (biệt động thành).
Trong những trận đánh vào các mục tiêu trọng yếu, nhiều chiến sĩ biệt động và lực lượng hoạt động bí mật đã ngã xuống. Nhưng vì hoạt động dưới những cái tên khác, nhiều người ra đi không để lại cho gia đình một địa chỉ cuối cùng. Chính điều đó khiến hành trình tìm kiếm và xác định danh tính những người đã hy sinh kéo dài qua nhiều thập kỷ.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về khoảnh khắc chứng kiến 5 đồng đội ngã xuống và thủ trưởng Ba Thanh (liệt sĩ Tô Hoài Thanh) hy sinh ngay trên tay mình vẫn luôn là một vết sẹo chưa bao giờ lành trong tâm khảm người nữ chiến sĩ Chín Nghĩa.
Đối với bà và các cựu chiến binh, nỗi đau lớn nhất là chưa tìm được hài cốt đồng đội đang ngủ vùi trong lòng đất cùng năm tháng. Là người may mắn được trở về sau ngày non sông thống nhất và chứng kiến sự đổi thay tích cực mỗi ngày của đất nước, bà Chín Nghĩa luôn coi việc phối hợp với các cơ quan chức năng để “trả lại tên cho các Anh hùng liệt sĩ” là sứ mệnh thiêng liêng cuối cùng của cuộc đời, nhằm thực hiện lời hứa để những người hùng của dân tộc sẽ không bao giờ bị lãng quên.
Nỗi đau đáu lớn nhất trong những năm tháng hòa bình chính là món nợ ân tình với những đồng đội chưa thể trở về.
Bà Nguyễn Thị Bích Nga
Với bà Nguyễn Thị Bích Nga, Chủ nhiệm Câu lạc bộ truyền thống kháng chiến khối vũ trang-Biệt động Sài Gòn-Gia Định, nỗi đau đáu lớn nhất trong những năm tháng hòa bình chính là món nợ ân tình với những đồng đội chưa thể trở về.
Do Biệt động Sài Gòn-Gia Định là một lực lượng vũ trang hoạt động mang tính đặc thù trong lòng địch, phải bí mật, ngăn cắt là nguyên tắc sống còn. Do đặc thù lịch sử chiến tranh khốc liệt tại miền Nam, đặc biệt trong đợt Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, các cán bộ, chiến sĩ lực lượng Biệt động Sài Gòn chỉ được thông báo tấn công trước 03 ngày nên đồng đội chưa kịp gặp gỡ, không nắm rõ lý lịch thật của nhau. Nguyên tắc hoạt động bí mật là tất cả cán bộ, chiến sĩ phải đổi quê quán, họ tên thật, dùng tên bí danh để liên hệ công tác, do đó không thể truy tìm thông tin đầy đủ về họ tên, quê quán và thân nhân của các đồng chí đã hy sinh.
Phải mãi đến 58 năm sau, 49 người nằm xuống tại mảnh đất này mới được công nhận là liệt sĩ. Đó là kết quả của một hành trình làm đơn, hồ sơ, cung cấp các tư liệu cho cơ quan Nhà nước của Câu lạc bộ truyền thống kháng chiến khối vũ trang-biệt động Sài Gòn-Gia Định.
Sau ngày đất nước thống nhất, những tài liệu, danh sách và hồ sơ của lực lượng được tập hợp lại. Nhưng việc ráp nối một con người từ những cái tên rời rạc vẫn là công việc kéo dài hàng chục năm.
“Muốn xác định một liệt sĩ phải tìm lại từng mối quan hệ, từng người từng gặp, từng địa bàn hoạt động, từng trận đánh. Công việc khó như tìm kim đáy bể”, bà Nguyễn Thị Bích Nga, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến Khối Vũ trang Biệt động Sài Gòn nói.
Chủ nhiệm Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến Khối Vũ trang Biệt động Sài Gòn
Bởi thế, có những người đã được ghi nhận sự hy sinh nhưng vẫn chưa thể trở về với một cái tên đầy đủ, một gia đình cụ thể. Trên những bia tưởng niệm dành cho các chiến sĩ biệt động hy sinh trong Mậu Thân 1968, có những cái tên chỉ được gọi bằng bí danh: Đồng chí Năm, Út Dự, Can, Đệ… Những tấm bằng Tổ quốc ghi công được trao vào ngày 31/1/2026 cho 49 liệt sĩ biệt động Sài Gòn chỉ có thành viên câu lạc bộ tới nhận, chưa xác định được thân nhân của bất kỳ liệt sĩ nào.
“Đó là điều chúng tôi vô cùng day dứt. Sau 58 năm, chúng tôi đã làm được một việc là đưa các anh về đúng với vị trí của những người đã hy sinh vì Tổ quốc, được công nhận là liệt sĩ. Nhưng phía sau những cái tên, những bí danh ấy vẫn còn những người chưa được tìm thấy, chưa biết hài cốt đang ở đâu. Chúng tôi còn sống thì còn phải đi tìm, bởi các anh đã chiến đấu cùng chúng tôi, đã hy sinh để chúng tôi được sống đến ngày hôm nay”, bà Nguyễn Thị Bích Nga xúc động nói.
Vì thế, khi cuộc khai quật tại Công viên Lê Thị Riêng bắt đầu, những người đã chờ đợi gần 60 năm bỗng có thêm một lý do để hy vọng. Những gia đình thất lạc thông tin về cha, mẹ, ông mình bắt đầu tìm đến. Những câu chuyện tưởng đã chìm vào quên lãng được hồi tưởng. “Sau 58 năm, chúng tôi mới có nơi để hy vọng tìm kiếm”, một lời nói giản dị nhưng chứa cả một quãng đời chờ đợi.
