KIẾN TẠO NHỮNG GIÁ TRỊ MỚI CHO NỀN KINH TẾ
Trong nhiều năm qua, nguồn lao động dồi dào, chi phí cạnh tranh và khả năng thu hút đầu tư sản xuất đã giúp Việt Nam mở rộng xuất khẩu, tạo việc làm và tham gia sâu hơn vào thương mại quốc tế. Nhưng khi cạnh tranh ngày càng dựa vào công nghệ, năng suất và chất lượng sản phẩm, những hạn chế của mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào gia công cũng bộc lộ rõ. Nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu, thiết bị và công nghệ nhập khẩu; khả năng phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu và giữ lại giá trị gia tăng trong nước chưa tương xứng với tiềm năng.
Để thay đổi vị thế đó, doanh nghiệp cần chủ động đi lên từ những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi sản xuất, thay vì chỉ mở rộng quy mô. Đầu tư thêm nhà máy, tăng công suất là cần thiết, nhưng nếu thiếu năng lực làm chủ công nghệ, quản trị hiệu quả và đội ngũ lao động có trình độ, quy mô lớn chưa chắc mang lại lợi thế cạnh tranh bền vững.
Trong ngành thép, Tập đoàn Hòa Phát đang từng bước mở rộng sang các dòng sản phẩm chất lượng cao, phục vụ những ngành công nghiệp đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe. Đáng chú ý là dự án Nhà máy sản xuất ray và thép đặc biệt Hòa Phát Dung Quất, có công suất thiết kế 700 nghìn tấn/năm, với tổng vốn đầu tư hơn 10 nghìn tỷ đồng. Nhà máy sử dụng dây chuyền công nghệ hiện đại của Tập đoàn SMS Group (Đức), hướng tới sản xuất ray đường sắt tốc độ cao, ray đường sắt đô thị và các loại thép đặc biệt phục vụ công nghiệp.
Theo thông tin doanh nghiệp công bố, dự án trên đã hoàn thành gần 70% tiến độ xây dựng, đặt mục tiêu đưa những sản phẩm ray đường sắt tốc độ cao đầu tiên ra thị trường trong quý I/2027, qua đó từng bước tham gia cung ứng vật liệu cho các dự án hạ tầng trọng điểm của đất nước. Đây không chỉ là bước mở rộng danh mục sản phẩm của một doanh nghiệp thép, mà còn là nỗ lực tham gia sâu hơn vào ngành công nghiệp đường sắt, lĩnh vực đòi hỏi năng lực sản xuất và kiểm soát chất lượng ở mức cao.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu, thiết bị và công nghệ nhập khẩu, chưa tạo giá trị gia tăng cao.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu, thiết bị và công nghệ nhập khẩu, chưa tạo giá trị gia tăng cao.
Chế biến thủy sản xuất khẩu ở Công ty CP Thủy sản Cafatex. (Ảnh: Trần Tuấn)
Chế biến thủy sản xuất khẩu ở Công ty CP Thủy sản Cafatex. (Ảnh: Trần Tuấn)
Sản xuất thép tại Khu liên hợp gang thép Hòa Phát Dung Quất (Quảng Ngãi).
Sản xuất thép tại Khu liên hợp gang thép Hòa Phát Dung Quất (Quảng Ngãi).
Tuy nhiên, theo Tổng Giám đốc Tập đoàn Hòa Phát Nguyễn Việt Thắng, đầu tư dây chuyền hiện đại mới chỉ là bước khởi đầu, khả năng vận hành, kiểm soát chất lượng, cải tiến quy trình, tích lũy tri thức và phát triển đội ngũ mới là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh lâu dài. Thực tế này cho thấy, bài toán của doanh nghiệp không dừng ở việc mua được dây chuyền sản xuất tiên tiến, mà là xây dựng được đội ngũ đủ năng lực vận hành, làm chủ quy trình và liên tục cải tiến sản phẩm. Nếu chỉ phụ thuộc vào công nghệ chuyển giao mà không tích lũy được năng lực nội tại, doanh nghiệp sẽ khó tạo ra lợi thế bền vững.
Ông Nguyễn Việt Thắng, Tổng Giám đốc Tập đoàn Hòa Phát
Ông Nguyễn Việt Thắng, Tổng Giám đốc Tập đoàn Hòa Phát
Ông Thắng cho biết, định hướng phát triển chuỗi sản xuất từ luyện thép đến chế biến sâu của Hòa Phát còn mở ra khả năng cung ứng nguyên liệu cho các ngành cơ khí, chế tạo, ô-tô, năng lượng và đường sắt. Khi nguồn vật liệu chất lượng cao được sản xuất trong nước, các doanh nghiệp ở những khâu tiếp theo có thêm điều kiện giảm phụ thuộc nhập khẩu, chủ động sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh. Đây cũng là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị: phát huy năng lực doanh nghiệp, thúc đẩy liên kết và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.
Nếu Hòa Phát cho thấy nỗ lực nâng cấp năng lực sản xuất công nghiệp, câu chuyện của Tập đoàn Vingroup, dưới sự dẫn dắt của doanh nhân Phạm Nhật Vượng, với thương hiệu ô-tô điện VinFast lại phản ánh một hướng đi khác khi đã đưa sản phẩm ô-tô điện do Việt Nam sản xuất cạnh tranh tại thị trường quốc tế. Theo công bố của doanh nghiệp, năm 2025, VinFast bàn giao gần 200 nghìn ô-tô điện trên toàn cầu, riêng 9 tháng năm 2026, con số này đạt gần 180 nghìn xe.
Khát vọng vươn ra biển lớn của VinFast không chỉ nằm ở việc đưa những chiếc xe mang thương hiệu Việt đến với khách hàng quốc tế, mà còn ở nỗ lực tham gia sâu hơn vào ngành công nghiệp ô-tô điện toàn cầu, từng bước nâng cao năng lực công nghệ, sản xuất và sức cạnh tranh. Đây là hành trình nhiều thách thức, đòi hỏi doanh nghiệp phải tiếp tục cải thiện chất lượng sản phẩm, tối ưu chi phí, phát triển hệ thống hậu mãi và đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe của từng thị trường.
Từ trường hợp của Vingroup có thể thấy, dù còn nhiều việc phải làm để khẳng định chỗ đứng bền vững trên thị trường quốc tế, hành trình của VinFast cho thấy khát vọng xây dựng thương hiệu công nghiệp Việt có khả năng cạnh tranh vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Đưa một sản phẩm ra nước ngoài là bước tiến đáng ghi nhận, nhưng duy trì sức cạnh tranh mới là thước đo lâu dài.
Tầm vóc của một doanh nghiệp vì thế không chỉ được đo bằng doanh thu, tài sản hay quy mô thị trường, điều đáng quan tâm hơn là doanh nghiệp có tạo ra sản phẩm đủ sức cạnh tranh, đầu tư cho công nghệ và góp phần hình thành năng lực sản xuất mới hay không. Một thương hiệu Việt Nam đứng vững ở thị trường quốc tế sẽ có ý nghĩa lớn hơn khi thành công đó gắn với sự phát triển của hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước.
Trong lĩnh vực đầu tư hạ tầng giao thông-xây dựng, Tập đoàn Đèo Cả lại cho thấy vai trò của năng lực kỹ thuật và khả năng tìm “lời giải” cho những công trình phức tạp. Quá trình thi công hầm Đèo Cả do Tập đoàn Đèo Cả đảm nhận là một dấu mốc trong nỗ lực nâng cao năng lực của đội ngũ kỹ sư, công nhân Việt Nam. Phương pháp đào hầm NATM “hệ Đèo Cả” được doanh nghiệp này cho biết, đã được cấp bằng sở hữu trí tuệ, thể hiện quá trình nghiên cứu, cải tiến và tích lũy kinh nghiệm trong thi công.
Theo Chủ tịch Tập đoàn Đèo Cả Hồ Minh Hoàng, những nỗ lực đó cho thấy doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra giá trị từ tri thức, kinh nghiệm và khả năng cải tiến của chính mình, thay vì chỉ tiếp nhận những giải pháp có sẵn. Tinh thần của doanh nhân dân tộc phải thể hiện ở sự dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Từ yêu cầu bảo đảm an toàn cho người dân, doanh nghiệp kiên trì tìm kiếm giải pháp thi công, tiếp thu công nghệ, tối ưu chi phí và kiến nghị hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tế dự án.
Công trình hầm đường bộ qua Đèo Cả do Tập đoàn Đèo Cả làm chủ đầu tư và triển khai thi công.
Công trình hầm đường bộ qua Đèo Cả do Tập đoàn Đèo Cả làm chủ đầu tư và triển khai thi công.
Tuy nhiên, năng lực của doanh nghiệp chỉ có thể phát huy đầy đủ khi đi cùng cơ chế đầu tư minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo. Với những dự án hạ tầng có vốn đầu tư lớn, thời gian thực hiện kéo dài và yêu cầu kỹ thuật phức tạp, sự thay đổi khó lường về thủ tục, chính sách có thể làm tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp.
Vì vậy, ông Hoàng cho rằng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực, nhưng Nhà nước cũng cần tạo điều kiện để những doanh nghiệp có đủ khả năng được tham gia các dự án trọng điểm trên cơ sở cạnh tranh công bằng, minh bạch, tiếp tục đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
NÂNG TẦM NĂNG LỰC QUỐC GIA
Ở một lĩnh vực khác, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn-Hà Nội (SHB) Đỗ Quang Vinh nhấn mạnh vai trò ngày càng quan trọng của công nghệ và dữ liệu trong nâng cao năng lực doanh nghiệp. Theo ông Vinh, công nghệ phải được ứng dụng vào quản trị, vận hành và phát triển sản phẩm, dịch vụ; mục tiêu không phải thay thế con người, mà giúp mỗi người làm việc hiệu quả hơn, nâng cao năng suất và cải thiện trải nghiệm khách hàng.
Tại SHB, ông Đỗ Quang Vinh cho biết, ngân hàng xác định công nghệ và dữ liệu là những động lực quan trọng trong quá trình phát triển. Khi dữ liệu được quản trị và phân tích tốt, doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định chính xác hơn, hiểu khách hàng sâu hơn và thiết kế sản phẩm phù hợp hơn với nhu cầu thực tế. Với ngân hàng, việc này còn mở ra khả năng phát triển các giải pháp tài chính gắn với chuỗi cung ứng, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực vận hành và mở rộng thị trường.
Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn-Hà Nội (SHB) Đỗ Quang Vinh
Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB) Đỗ Quang Vinh
Vì vậy, ông Vinh đưa ra quan điểm, nâng cao năng lực doanh nghiệp trước hết là trách nhiệm của mỗi doanh nhân. Trong môi trường kinh doanh liên tục biến đổi, người lãnh đạo không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm đã có, mà phải chủ động học hỏi, cập nhật công nghệ, đổi mới mô hình quản trị và chuẩn bị cho những thay đổi dài hạn. Việc ứng dụng công nghệ cần được triển khai đồng bộ, từ quản trị nhân lực, tài chính, dữ liệu đến tổ chức sản xuất và chăm sóc khách hàng, thay vì chỉ dừng ở một vài khâu riêng lẻ.
Thành công trong nước là nền tảng, nhưng doanh nghiệp Việt Nam cần hướng tới khả năng cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế bằng năng lực, chất lượng và bản sắc riêng. Các doanh nhân trẻ cần kết hợp khát vọng kinh doanh với tinh thần phụng sự, đặt câu hỏi không chỉ về việc doanh nghiệp có thể phát triển đến đâu, mà còn có thể đóng góp gì cho nền kinh tế và đất nước.
Có thể nói, phía sau mỗi thành công của từng doanh nghiệp là những quyết tâm cao, tinh thần không ngừng đổi mới sáng tạo, là cả mồ hôi và những giọt nước mắt, những nỗ lực không ngừng nghỉ với khát vọng, niềm tin vào sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, khát vọng phát triển của doanh nghiệp cần đi cùng nỗ lực của Nhà nước trong kiến tạo môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi. Bởi nỗ lực của từng doanh nghiệp sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu thiếu một môi trường kinh doanh, đầu tư ổn định và cơ chế thực thi nhất quán.
Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đồng thời đặt ra yêu cầu cải thiện môi trường kinh doanh, bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng.
Để tinh thần đó đi vào cuộc sống, các bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục rà soát những quy định còn chồng chéo, hoàn thiện thể chế ổn định; tháo gỡ các rào cản về thủ tục, vốn, đất đai, công nghệ và nhân lực, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời, nỗ lực giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch trong giải quyết thủ tục và tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động triển khai các kế hoạch đầu tư dài hạn.
Các doanh nghiệp mong muốn, Nhà nước cần nhanh chóng hoàn thiện thể chế; tháo gỡ các rào cản về thủ tục, vốn, đất đai, công nghệ và nhân lực, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng.
Các doanh nghiệp mong muốn, Nhà nước cần nhanh chóng hoàn thiện thể chế; tháo gỡ các rào cản về thủ tục, vốn, đất đai, công nghệ và nhân lực, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng.
Với những dự án quan trọng của đất nước, việc huy động năng lực doanh nghiệp trong nước cần gắn với các tiêu chí rõ ràng về kỹ thuật, chất lượng, tiến độ và hiệu quả. Doanh nghiệp đủ năng lực cần được tạo cơ hội cạnh tranh công bằng để tham gia, qua đó tích lũy kinh nghiệm, làm chủ công nghệ và phát triển hệ sinh thái sản xuất.
Cùng với đó, cần thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và các tổ chức tài chính. Những tập đoàn có tiềm lực có thể tạo ra thị trường cho nhà cung ứng trong nước, chia sẻ yêu cầu kỹ thuật, hỗ trợ đào tạo và giúp các doanh nghiệp tham gia chuỗi sản xuất nâng cao tiêu chuẩn. Khi quan hệ giữa các doanh nghiệp không chỉ dừng ở mua bán mà tiến tới hợp tác về công nghệ, tri thức và quản trị, sức lan tỏa của những doanh nghiệp đầu tàu sẽ rõ rệt hơn.
Đất nước đang đặt mục tiêu phát triển cao, do đó bản thân đội ngũ doanh nhân Việt Nam cần tiếp tục phát huy bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự lực, tự cường và trách nhiệm với đất nước. Nỗ lực đổi mới phương thức quản trị, đầu tư nhiều hơn cho khoa học, công nghệ, nâng cao năng suất, xây dựng thương hiệu và làm chủ những khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi sản xuất.
Thách thức không chỉ nằm ở việc mở rộng quy mô, mà còn chuyển khát vọng thành năng lực cạnh tranh thực chất, tạo sức lan tỏa tới các doanh nghiệp khác và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điều cần hướng tới không chỉ xây dựng doanh nghiệp, thương hiệu Việt Nam có vị thế cao hơn, vươn ra thị trường quốc tế, mà cần từng bước làm chủ công nghệ, sáng tạo sản phẩm và dẫn dắt chuỗi giá trị. Qua đó, hình thành một cộng đồng doanh nghiệp mạnh về năng lực sản xuất, quản trị và đổi mới sáng tạo.
Doanh nghiệp phát triển bền vững phải tạo được việc làm có chất lượng, đóng góp ngân sách, thực hiện trách nhiệm với người lao động và cộng đồng, đồng thời đầu tư cho những năng lực giúp nền kinh tế chủ động hơn trước biến động bên ngoài. Thành công kinh doanh vì thế cần được nhìn nhận không chỉ qua doanh thu hay lợi nhuận, mà còn qua những giá trị doanh nghiệp tạo ra cho xã hội.
Quan trọng hơn, khi Nhà nước kiến tạo đúng hướng, doanh nhân lãnh đạo đủ tâm, tầm, có bản lĩnh biến cơ hội thành năng lực cạnh tranh, khi đó mỗi doanh nghiệp lớn mạnh sẽ không chỉ là một thành công riêng lẻ, mà còn trở thành một nguồn lực quan trọng, góp phần củng cố sức mạnh và vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
TRONG KỶ NGUYÊN MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC, ĐỘI NGŨ DOANH NHÂN VIỆT NAM CẦN TIẾP TỤC PHÁT HUY BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ, TINH THẦN TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG VÀ TRÁCH NHIỆM VỚI ĐẤT NƯỚC.