
Hàng nghìn nhà khoa học, hàng triệu người nông dân… đã miệt mài nghiên cứu, canh tác trên đồng ruộng trong nhiều thập kỷ qua để đưa cây lúa Việt Nam phát triển vượt bậc. Từ những hạt giống thuần Việt đầu tiên nhằm tăng năng suất, tăng mùa vụ để cứu đói, cây lúa hôm nay đã đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu và làm ra giống lúa gạo “ngon nhất thế giới”.
Người Việt đã thuần hóa lúa từ một loài cây hoang thời tiền sử trở thành “hạt ngọc trời” nuôi sống con người bao đời nay. Từ những mảnh ruộng bậc thang trên sườn núi phía bắc, những cánh đồng châu thổ sông Hồng rộng lớn, những dải ruộng miền trung bỏng rát đến vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long mênh mông thẳng cánh cò bay, qua dòng thời gian biến thiên của lịch sử, đã đổ xuống biết bao mồ hôi công sức và tâm huyết của người nông dân. Và cùng với họ, là bóng hình in đậm không thể tách rời của các nhà khoa học qua nhiều thế hệ.
Khi tìm những dấu mốc nghiên cứu khoa học về cây lúa Việt Nam, chúng tôi bất giác nhận ra, người có thể gọi là “bắt đầu” của cuộc hành trình lai tạo giống lúa “made in Vietnam” cho đến người hiện đang “nắm giữ” đỉnh cao và được gọi là “cha đẻ” của loại gạo ngon nhất thế giới, đều có cùng một quê hương: Sóc Trăng. Vậy là giữa những ngày hè tràn ngập nắng gió, chúng tôi lên đường về Sóc Trăng, đến vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long.
Vị bác sĩ nông học đầu tiên “định danh” cây lúa Việt


Đi ngược về lịch sử hơn 120 năm trước, thực dân Pháp đã nhận thấy kho báu vô giá từ hạt gạo Việt Nam nên đã cho đào kênh Xáng Xà No huyền thoại, tạo con đường lúa gạo đầu tiên để chiếm lấy những hạt lúa màu mỡ ở đồng bằng sông Cửu Long mang đi xuất khẩu. Lịch sử ghi nhận thời kỳ thuộc Pháp 1921-1924, hạt gạo Việt Nam đã xuất khẩu đạt 1 triệu tấn/năm, rồi tăng lên 2 triệu tấn vào năm 1939. Thế nhưng lịch sử lại ghi dấu một ký ức kinh hoàng về nạn đói làm chết hơn hai triệu người Việt Nam năm 1945, chính là “đêm trước” của cuộc Cách mạng Tháng Tám.
Chính người nông dân đã vùng lên giành lại độc lập tự do, hiện thực hoá khát vọng tự làm nên hạt gạo trên chính đồng ruộng của cha ông mình. Nhưng đất nước những năm chiến tranh là lúc lượng lúa gạo giảm mạnh, đến năm 1954 chúng ta chỉ còn xuất khẩu 0,52 triệu tấn. Trong bối cảnh vừa chiến tranh vừa đói kém, năm 1952, bác sĩ nông học Lương Định Của, nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã từ Nhật Bản trở về nước để đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Cuối năm 1954 ông cùng gia đình tập kết ra Bắc và trọn đời gắn bó với khoa học nông nghiệp.
Tượng đài Giáo sư - Bác sĩ Nông học Lương Định Của ở Sóc Trăng. (Ảnh: Trung Hiếu/TTXVN)
Tượng đài Giáo sư - Bác sĩ Nông học Lương Định Của ở Sóc Trăng. (Ảnh: Trung Hiếu/TTXVN)
Ở trung tâm Thành phố Sóc Trăng (cũ) có tượng đài vị Bác sĩ- Nhà nông học lừng danh Lương Định Của với hình ảnh giản dị như hình tượng người nông dân tay ôm bó lúa, trở thành điểm nhấn và thu hút nhiều du khách khi đi qua. Cách trung tâm thành phố không xa, tại huyện Long Phú (cũ), nơi quê hương ông, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân cũng xây dựng một Nhà tưởng niệm để tưởng nhớ và vinh danh ông – nhà khoa học thành danh ở nước ngoài đã trở về với đất nước ngay từng những ngày đầu của chính quyền cách mạng.
Khi chúng tôi đến Nhà tưởng niệm vào một buổi chiều hè tràn ngập nắng gió đồng quê, có một vài du khách người Nhật cũng ghé qua thắp hương tưởng niệm nhà khoa học nông học. Họ chăm chú xem các hiện vật, tài liệu về ông, đặc biệt là mô hình bông lúa của Việt Nam từ hơn 70 năm trước. Mô hình với tỷ lệ kích thước bằng bông lúa thật, do chính các bạn Nhật Bản tặng, cũng chính là giống lúa mà bác sĩ Lương Định Của lai tạo thành công từ giống lúa của Nhật Bản.
Bác sĩ nông học Lương Định Của cùng bà con nông dân. (Ảnh tư liệu: Trung tâm thông tin thư viện Lương Định Của)
Bác sĩ nông học Lương Định Của cùng bà con nông dân. (Ảnh tư liệu: Trung tâm thông tin thư viện Lương Định Của)
Nhà nông học Lương Định Của là một trong số những người đầu tiên dành tâm huyết để lai tạo giống lúa mới. Bấy giờ, giống lúa Việt Nam hầu hết lúa mùa truyền thống, canh tác dài ngày và năng suất thấp. Để giải quyết khâu cứu đói, ông đã lai tạo thành công giống lúa ngắn ngày, có năng suất tốt và đặc biệt chống chịu được sâu bệnh, thời tiết. Ông đã lai tạo giống Ba Thắc của Nam Bộ với lúa Nhật Bản thành giống lúa Nông nghiệp 1 để gieo trồng vào vụ hè thu, giống lúa Chiêm 314 cho vùng đất trũng sâu; giống lúa Thần Nông 307, NN75-1, NN8-388… tăng năng suất lên đến từ 20-30% so với các giống lúa cũ và khả năng chịu sâu bệnh tốt, lúa Chiêm ngắn ngày, lúa mùa sớm.
Nhà nông học Lương Định Của là một trong số những người đầu tiên dành tâm huyết để lai tạo giống lúa mới.
Giai đoạn những năm 1960-1970, ông lai tạo thêm các giống lúa mới như A69, C70, Chiêm Cơm, Nếp 87… được phổ biến rộng rãi trên cả nước, đặt nền tảng cho hệ thống giống lúa quốc gia sau này.
Người nông dân thế hệ trước vẫn luôn ghi nhớ công ơn của ông với vai trò đề xuất chủ trương đắp bờ vùng bờ thửa, làm thủy lợi nội đồng để việc canh tác lúa đi vào thâm canh, tăng vụ. Đồng thời, nhiều quy trình cấy lúa mới đều được ông cải tiến nhờ ứng dụng kinh nghiệm của Nhật Bản để giúp bà con nông dân. Cuộc cách mạng về thay đổi giống lúa và kỹ thuật canh tác do ông khởi xướng đã đưa năng suất lúa bình quân tăng từ 1,5 tấn/ha lên 5-6 tấn/ha.
Lăn lộn với bà con nông dân và là người cũng tâm huyết với con đường nghiên cứu khoa học, làm điểm tựa cho bà con về việc lai tạo giống lúa mới và kỹ thuật canh tác, ông Lương Định Của xuống từng cánh đồng, kiểm nghiệm lúa ngay sau khi thu hoạch. Ngay sau ngày đất nước thống nhất, chính ông là người đã khảo sát và đặt nền móng cho Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long ra đời. Chỉ tiếc, ông qua đời quá sớm mà không đi trọn vẹn với hành trình cây lúa Việt Nam. Nhưng di sản hơn 40 giống cây trồng và nhiều công trình nghiên cứu nông nghiệp ứng dụng của ông đã tạo tiền đề cho ngành lúa sau này.


Di sản hơn 40 giống cây trồng và nhiều công trình nghiên cứu nông nghiệp ứng dụng của ông đã tạo tiền đề cho ngành lúa sau này.
------------------------
Trong ảnh: Nhà nông học Lương Định Của và các cán bộ Viện Cây lương thực và cây thực phẩm. (Ảnh tư liệu: Trung tâm thông tin thư viện Lương Định Của)
Người đưa lúa gạo Việt lên “đỉnh cao” của thế giới


Trại nghiên cứu giống lúa ST của nhà nông học Hồ Quang Cua cách không xa khu nhà tưởng niệm Bác sĩ nông học Lương Định Của, ở bên rìa thành phố Sóc Trăng (cũ). Ngồi trong “chòi ngắm lúa” cùng ông bên những mảnh ruộng canh tác giống lúa đang được gọi là “hoa hậu” với “biệt danh “ST” từ số 1 đến 25, chúng tôi mới được biết, ST chính là được viết tắt của từ Sóc Trăng.
Kỹ sư nông học Hồ Quang Cua bên những thửa ruộng lúa giống ST25. (Ảnh: Nguyễn Thanh Phong)
Kỹ sư nông học Hồ Quang Cua bên những thửa ruộng lúa giống ST25. (Ảnh: Nguyễn Thanh Phong)
Ông Hồ Quang Cua kể, từ 1978-1993, ông là cán bộ huyện ở vùng nước lợ Mỹ Xuyên, vùng đất nổi tiếng gạo ngon từ thời Nam Kỳ còn là thuộc địa của Pháp. “Thời kỳ làm việc ở đó tôi ra ngõ bốn hướng đều chỉ gặp cây lúa. Đây còn là vùng gạo thơm chớ không chỉ là gạo ngon. Tôi thích sống gần gũi với nông dân mà đa phần đều là bạn vong niên nên có cơ hội hấp thu sự trải nghiệm của họ. Thời gian dài rong ruổi nơi đồng quê đã nuôi dưỡng trong tôi một tình cảm với cây lúa quê mình”, ông Cua tâm sự.
Ông Hồ Quang Cua dẫn phóng viên đi thăm các ruộng lúa ST được trồng thử nghiệm với những điều kiện khác nhau. (Ảnh: Nguyễn Thanh Phong)
Ông Hồ Quang Cua dẫn phóng viên đi thăm các ruộng lúa ST được trồng thử nghiệm với những điều kiện khác nhau. (Ảnh: Nguyễn Thanh Phong)
Nếu như bác sĩ Lương Định Của có công lớn trong việc tăng năng suất lúa gạo thì nhiều nhà khoa học sau này, trong đó có ông Hồ Quang Cua, đã sớm nghĩ đến việc lai tạo ra hạt gạo thơm ngon.
Kỹ sư Hồ Quang Cua tiết lộ, thứ dẫn dắt ông đến với gạo thơm chính là từ năm 2002, khi lai tạo giống lúa mới, đều lấy gạo Khao Dawk Mali (gạo thơm hàng đầu thế giới) làm tiêu chí để nghiên cứu: “Lai tạo lúa thơm chưa ai làm, chỉ làm loại gạo thường. Đây là mảng nghiên cứu còn bỏ trống và phải cần nhiều thời gian để lai tạo”.
Nhưng nghiên cứu lúa thơm không dễ. Trong 18 năm ròng, nhóm nghiên cứu của ông cơ bản có ba người và ba thạc sĩ hỗ trợ, đã kiên trì theo đuổi mục tiêu. “Chuỗi thời gian này thật là dài với một đời người, nhưng tôi ít khi cảm thấy dài vì nghiên cứu là công việc tự nguyện”… Ký hiệu giống lúa ST từ số 1 cho đến số 25 có thể cho thấy sự kỳ công vất vả của các nhà khoa học khi lai tạo cho được mùi thơm không lẫn với bất kỳ giống lúa nào trên thế giới…
Lai tạo lúa thơm chưa ai làm, chỉ làm loại gạo thường. Đây là mảng nghiên cứu còn bỏ trống và phải cần nhiều thời gian để lai tạo.
-------------
Kỹ sư nông học
Hồ Quang Cua
“Chúng tôi miệt mài lai xa giữa các giống/dòng ở đồng bằng sông Cửu Long với các giống/ dòng ở đồng bằng sông Hồng và lai giữa loài phụ Oryza sativa Indiaca với loài phụ Oryza sativa Japonica (lúa tám xoan) để kết hợp hai mùi vị khác nhau là thơm dứa (giống phía nam) với thơm cốm (giống phía bắc) đã tạo nên chất lượng cao có tính khác biệt”, ông Cua nói.
Ông và các cộng sự đã thành công khi mang gạo ra thế giới chinh phục vị trí “đỉnh cao”. Với những phẩm chất vượt trội như ngắn ngày, hạt gạo dài, trắng trong, dẻo cơm, thơm thoảng hương lá dứa…, năm 2017, gạo ST24 được vinh danh gạo ngon thế giới tại Hội nghị quốc tế lần thứ 9 về mua bán gạo do tổ chức The Rice Trader (Tổ chức thương mại gạo) tại Ma Cao (Trung Quốc). Sau đó 2 năm, gạo ST25 đã xuất sắc vượt qua gạo Thái Lan, giành giải Nhất cuộc thi gạo ngon nhất thế giới. Năm 2023, thương hiệu gạo ST25 một lần nữa được vinh danh gạo ngon nhất thế giới.


Ông và các cộng sự đã thành công khi mang gạo ra thế giới chinh phục vị trí “đỉnh cao”.
Câu chuyện từ khoảnh ruộng gần 50 năm trồng thử nghiệm lúa


Giáo sư Võ Tòng Xuân (Ảnh: VinFuture)
Giáo sư Võ Tòng Xuân (Ảnh: VinFuture)
Một tên tuổi lớn của nhà khoa học gắn liền với lúa gạo Việt Nam là cố Giáo sư Võ Tòng Xuân. Ông là tấm gương điển hình của các nhà khoa học về cây lúa, khi một nắng hai sương sẵn sàng lội ruộng cùng người nông dân, vừa nghiên cứu nên giống lúa cao sản IR8, IR36 vừa đồng thời là người phổ biến kỹ thuật canh tác lúa nước cải tiến cho đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1972, khi dịch rầy nâu phát triển mạnh, tàn phá giống lúa, ông đã liên tục đi xin giống và nhân rộng giống IR26 và IR30… Là người đưa khoa học hiện đại vào canh tác, đề xuất mô hình “cánh đồng mẫu lớn”, Giáo sư Võ Tòng Xuân cũng là người đề xuất triển khai mô hình “5 nhà” để tăng hiệu quả sản xuất, bảo đảm đầu ra, nâng giá trị gạo Việt.
Hiện nay, năng suất lúa của Việt Nam cao nhất Đông Nam Á đạt 5-7 tấn/ha, gần gấp đôi so với Thái Lan và gấp 1,5 lần so với Ấn Độ. Gạo Việt Nam đang hiện diện ở 150 quốc gia trên thế giới.
Hiện nay, năng suất lúa của Việt Nam cao nhất Đông Nam Á đạt 5-7 tấn/ha, gần gấp đôi so với Thái Lan và gấp 1,5 lần so với Ấn Độ. Gạo Việt Nam đang hiện diện ở 150 quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, trong số 8 triệu tấn gạo Việt Nam đang xuất khẩu đi các nước mỗi năm, loại gạo ngon như ST chỉ chiếm con số rất nhỏ, 95% là phân khúc gạo trắng, hạt dài, nếp… Trong “đội ngũ tinh hoa”của gạo Việt hiện nay, không chỉ có ST mà là hàng dài thương hiệu: OM8, Nàng Hoa 9, OM18, OM19, RVT, Đài Thơm 8, OM7347, OM5451, rồi rất nhiều các loại gạo nổi tiếng ở miền bắc: Tám Xoan Hải Hậu, nếp cái hoa vàng, tám Điện Biên, Séng Cù, nếp Tú Lệ, Xi Dẻo, Tẻ Râu Lai Châu, gạo Bắc Hương…
(Ảnh: Nguyễn Thanh Phong)
(Ảnh: Nguyễn Thanh Phong)
Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch – Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL và các cộng sự nghiên cứu từng loại sâu bệnh và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới các giống lúa…
Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch – Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL và các cộng sự nghiên cứu từng loại sâu bệnh và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới các giống lúa…
Chúng tôi lấy phẩm chất gạo làm định hướng để nghiên cứu.
Tuy nhiên, một trong những đặc điểm của các giống lúa dù “ưu việt” đến mấy cũng thường chỉ hiệu quả với vòng đời của giống chỉ khoảng 5 năm, sau đó là suy thoái bởi sự tác động của nhiều yếu tố. Do đó, việc nghiên cứu giống lúa mới để bảo toàn các tính năng vượt trội đã có và liên tục thích ứng với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, dịch bệnh… là hành trình không bao giờ ngưng nghỉ của các nhà khoa học.
Được thành lập từ năm 1976 ngay sau khi đất nước vừa thống nhất, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long chính là nơi nhiều thế hệ nhà khoa học của ruộng đồng gắn bó và hiểu cây lúa hơn ai hết. Câu chuyện say sưa kéo dài cả buổi sáng bên những mảnh ruộng “có lịch sử 50 năm nghiên cứu” của Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng- đã cho chúng tôi hiểu hơn về tình yêu và sự say mê bền bỉ dành cho cây lúa ở đây như thế nào. Viện Lúa là nơi phải tạo ra giống liên tục có phẩm chất tương đương hoặc cao hơn và có khả năng kháng sâu bệnh tốt hơn để thay thế những giống lúa liên tục bị thoái hoá. Bên cạnh đó, Viện cũng tạo ra giống mới để đáp ứng nhu cầu rất đa dạng của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch bên thửa ruộng được canh tác để phục vụ nghiên cứu suốt 50 năm… (Ảnh: Nguyễn Thanh Phong)
Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch bên thửa ruộng được canh tác để phục vụ nghiên cứu suốt 50 năm… (Ảnh: Nguyễn Thanh Phong)
Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch bên thửa ruộng được canh tác để phục vụ nghiên cứu suốt 50 năm… (Ảnh: Nguyễn Thanh Phong)
Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch bên thửa ruộng được canh tác để phục vụ nghiên cứu suốt 50 năm… (Ảnh: Nguyễn Thanh Phong)
Câu chuyện say sưa kéo dài cả buổi sáng bên những mảnh ruộng “có lịch sử 50 năm nghiên cứu” của Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng - đã cho chúng tôi hiểu hơn về tình yêu và sự say mê bền bỉ dành cho cây lúa ở đây như thế nào.
“Hiện nay, chúng tôi lấy phẩm chất gạo làm định hướng để nghiên cứu gồm: độ ngon của cơm, giá trị dinh dưỡng, cảm quan của người tiêu dùng với chi phí canh tác thấp, nhưng cho năng suất cao và thích ứng với biến đổi khí hậu”, Tiến sĩ Thạch cho hay. Việc nghiên cứu để cho ra được một ký hiệu giống lúa mới là những cuộc hành trình miệt mài kỳ công. Ví dụ gạo Nàng Hoa 9 là giống lúa được lai tạo từ Jasmie85 và AS996, là nó là nguồn gốc của gạo Làng Hoa, nổi tiếng với hương thơm tự nhiên, độ dẻo và vị ngọt, đặc biệt không bị cứng sau khi để nguội. Hay như giống lúa OM (viết tắt của địa danh Ô Môn), mỗi ký hiệu đi liền một đặc tính mới mà đằng sau đó là rất nhiều công sức, tâm huyết của các nhà khoa học. Điều đặc biệt của những nhà nông học là họ không chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, mà ngay trên những kinh nghiệm và kết quả canh tác hằng ngày cùng với những người nông dân trên đồng ruộng.
Dẫn chúng tôi ra thăm cánh đồng rộng 30ha chuyên trồng lúa để phục vụ nghiên cứu thử nghiệm, Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch chỉ vào từng khoảnh ruộng được với những ký hiệu biển báo chi tiết và giải thích: “Chỗ này là nơi gần 50 năm không bón phân, chỗ kia chỉ bón mỗi đạm, hoặc có chỗ chỉ bón lân hoặc kali… để xem chất đất biến đổi thoái hóa đi như thế nào. Mỗi giống lúa sau 5 năm sẽ bị thoái hóa, vì thế cũng phải trồng đồng nhất trên một khoảnh ruộng để theo dõi. Chúng tôi cũng trồng khoảnh lúa sạ bên cạnh khoảnh lúa cấy và đều không phân bón để theo dõi xem có khác nhau không”.
Điều đặc biệt của những nhà nông học là họ không chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, mà ngay trên những kinh nghiệm và kết quả canh tác hằng ngày cùng với những người nông dân trên đồng ruộng
Cứ như vậy, trên mảnh ruộng chừng vài hecta ấy, các nhà khoa học đã âm thầm theo dõi, ghi chép về sự thay đổi của lúa trong gần 50 năm qua để hiểu rõ hơn về tác động của các yếu tố như phân bón, điều kiện môi trường… đối với sự phát triển của các giống lúa. Từ đó, kết quả nghiên cứu được sử dụng để xây dựng mô hình canh tác lúa bền vững. Nhìn những mảnh ruộng nhỏ lô xô cây cao cây thấp, lá vàng lẫn lá xanh, chỗ tươi tốt chỗ úa héo sâu bệnh, chúng tôi chợt nghĩ như đây chính là “bảo tàng lịch sử” sống động về hành trình cây lúa trong nửa thế kỷ qua.
Rời Viện lúa, chúng tôi chợt nhớ câu của nhà nông học-kỹ sư Hồ Quang Cua khi nói về tốc độ tăng năng suất và chất lượng của cây lúa Việt Nam: “Từ chỗ bước ra khỏi nạn đói, cải tiến giống lúa và canh tác để cứu đói, trong nửa thời gian sau của tám thập kỷ kể từ ngày độc lập, Việt Nam đã xuất khẩu gạo đủ nuôi sống 1 tỷ người trên thế giới.
Để có bước tiến thần tốc như vậy, hàng nghìn nhà khoa học Việt Nam, khởi đầu là nhà bác học Lương Định Của, đã dày công nghiên cứu trong những điều kiện vô cùng khó khăn thiếu thốn”.
Hành trình đó vẫn được đội ngũ các nhà khoa học nông nghiệp tiếp tục đi về phía tương lai…
LÚA
GẠO
Ngày xuất bản: 8/2025
Nội dung: Minh Nhật-Thảo Lê-Thiên Lam
Trình bày: Ngọc Diệp
Ảnh: Nguyễn Thanh Phong, Báo Nhân Dân, pixabay
