DU LỊCH Y TẾ:
Cuộc đua mới của các quốc gia và cơ hội của Việt Nam

Du lịch y tế đang trở thành một ngành kinh tế trị giá hàng trăm tỷ USD và là cuộc cạnh tranh mới giữa các quốc gia. Nếu trước đây, lợi thế chỉ nằm ở chi phí điều trị hay tay nghề bác sĩ, thì nay, sức hút của một điểm đến còn được quyết định bởi cả một hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe: từ bệnh viện, dịch vụ phục hồi, bảo hiểm, hàng không, nghỉ dưỡng đến năng lực ứng phó y tế khẩn cấp và sự an toàn của cộng đồng.

Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để tham gia cuộc đua này. Nhiều kỹ thuật y khoa đã tiệm cận trình độ khu vực, chi phí cạnh tranh, thời gian chờ ngắn và ngày càng có nhiều bệnh viện thu hút bệnh nhân quốc tế. Tuy nhiên, để biến những "điểm sáng" riêng lẻ thành một ngành kinh tế thực sự, Việt Nam sẽ cần nhiều hơn chứ không chỉ là những bệnh viện chất lượng.

Loạt bài "Du lịch y tế: Cuộc đua mới của các quốc gia và cơ hội của Việt Nam" sẽ đi từ những câu chuyện người nước ngoài lựa chọn Việt Nam để điều trị, phân tích kinh nghiệm của các quốc gia thành công, chỉ ra những khoảng trống cần tháo gỡ và đề xuất giải pháp xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến an toàn về sức khỏe trong khu vực.

E
DU LỊCH Y TẾ nhandan.vn

Quy mô thị trường du lịch y tế toàn cầu tiếp tục tăng trưởng nhanh, trong khi cạnh tranh giữa các quốc gia trong khu vực ngày càng gay gắt.

Điều quyết định sức cạnh tranh của du lịch y tế không còn nằm ở một ca phẫu thuật thành công hay một bệnh viện hiện đại, mà ở khả năng tạo ra hành trình điều trị trọn vẹn cho người bệnh. Đó cũng là khoảng trống lớn nhất Việt Nam cần lấp đầy nếu muốn trở thành điểm đến du lịch y tế của khu vực.

Tạo dựng hệ sinh thái

trong “cuộc đua” du lịch y tế

Theo ông Bùi Thanh Tú, Giám đốc Marketing (CMO) Công ty Du lịch BestPrice (BestPrice Travel), để đưa du lịch y tế trở thành một sản phẩm hoàn chỉnh, thu hút khách du lịch, Chính phủ và các bộ, ngành cần giữ vai trò kiến tạo, hoàn thiện cơ chế, chính sách về thị thực y tế, bảo hiểm và khung pháp lý đặc thù cho du lịch y tế. Các bệnh viện và hiệp hội chuyên ngành là lực lượng nòng cốt, chịu trách nhiệm bảo đảm chất lượng chuyên môn y khoa, chuẩn hóa dịch vụ và tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế. Doanh nghiệp lữ hành giữ vai trò kết nối và điều phối, xây dựng sản phẩm, tổ chức trải nghiệm và đẩy mạnh hoạt động marketing quốc tế.

Việt Nam cần hình thành một cơ chế liên ngành đóng vai trò điều phối thống nhất nhằm huy động nguồn lực và kết nối các bên trong chuỗi dịch vụ.

Trong cơ chế này, Bộ Y tế giữ vai trò trung tâm về chuyên môn, xây dựng danh mục kỹ thuật thế mạnh, chuẩn hóa và kiểm soát chất lượng y khoa theo chuẩn quốc tế, đồng thời thúc đẩy các bệnh viện trọng điểm đạt các chứng nhận uy tín như JCI.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đảm nhiệm vai trò xây dựng thương hiệu quốc gia cho du lịch y tế Việt Nam, tổ chức xúc tiến và quảng bá tại các hội chợ, diễn đàn du lịch quốc tế nhằm mở rộng thị trường.

Góc độ vô cùng quan trọng cần triển khai, theo các bên đang tham gia trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch y tế, đó là các cơ quan liên ngành tập trung cải thiện chính sách về thị thực y tế, giúp cho cánh cửa vốn đã mở nay phải được thông thoáng và phù hợp hơn nữa. Đồng thời, xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung phục vụ bệnh nhân quốc tế và tăng cường kết nối thông tin giữa các bên.

Chỉ khi các chủ thể này được vận hành trong một cơ chế phối hợp thống nhất, du lịch y tế Việt Nam mới có thể chuyển từ những mô hình phát triển riêng lẻ hiện nay thành một ngành dịch vụ có sức cạnh tranh thực sự trong khu vực và trên thế giới.

Ông Bùi Thanh Tú

Trong khi đó, các hiệp hội và doanh nghiệp giữ vai trò phát triển thị trường thông qua đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực dịch vụ, kết nối hệ thống lữ hành với các cơ sở y tế và hình thành chuỗi dịch vụ du lịch y tế hoàn chỉnh.

“Chỉ khi các chủ thể này được vận hành trong một cơ chế phối hợp thống nhất, du lịch y tế Việt Nam mới có thể chuyển từ những mô hình phát triển riêng lẻ hiện nay thành một ngành dịch vụ có sức cạnh tranh thực sự trong khu vực và trên thế giới”, ông Tú chia sẻ.

Du lịch - y tế

Sự kiến tạo hai chiều

Trong mô hình du lịch y tế hiện đại, ngành du lịch không chỉ giữ vai trò đưa khách đến cơ sở khám, chữa bệnh, mà còn tham gia kiến tạo toàn bộ hành trình trải nghiệm của người bệnh quốc tế. Từ tư vấn, hỗ trợ thủ tục nhập cảnh, tổ chức di chuyển, bố trí lưu trú phù hợp, đến các hoạt động phục hồi sức khỏe sau điều trị, mỗi mắt xích đều góp phần quyết định mức độ hài lòng và khả năng quay trở lại của khách hàng.

Khác với du lịch thông thường, khách du lịch y tế thường có những yêu cầu đặc thù về sức khỏe, tâm lý và thời gian lưu trú. Vì vậy, doanh nghiệp du lịch cần phối hợp chặt chẽ với bệnh viện, đơn vị bảo hiểm và các nhà cung cấp dịch vụ để xây dựng những sản phẩm được cá nhân hóa, bảo đảm thuận tiện, an toàn và phù hợp với từng nhóm khách hàng. Đây cũng là yếu tố giúp Việt Nam chuyển từ mô hình “đón bệnh nhân đến điều trị” sang xây dựng một hành trình chăm sóc sức khỏe toàn diện, trong đó y tế là giá trị cốt lõi còn du lịch tạo nên trải nghiệm khác biệt.

Du lịch y tế Việt Nam đang chuyển từ mô hình phát triển riêng lẻ thành một ngành dịch vụ có sức cạnh tranh thực sự trong khu vực và trên thế giới.

Du lịch y tế Việt Nam đang chuyển từ mô hình phát triển riêng lẻ thành một ngành dịch vụ có sức cạnh tranh thực sự trong khu vực và trên thế giới.

Du lịch y tế Việt Nam đang chuyển từ mô hình phát triển riêng lẻ thành một ngành dịch vụ có sức cạnh tranh thực sự trong khu vực và trên thế giới.

Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn cũng cho rằng, đối với các doanh nghiệp, yếu tố then chốt để tạo thành năng lực cạnh tranh chính là khả năng sử dụng nguồn lực và hệ thống tài nguyên. “Doanh nghiệp cần biến những lợi thế trên thành những sản phẩm du lịch y tế hấp dẫn, lôi cuốn. Khi đã xây dựng được sản phẩm phù hợp với nhu cầu thiết yếu của khách du lịch, doanh nghiệp cần có chiến lược truyền thông và quảng bá hiệu quả để thúc đẩy việc đón khách. Đó là vai trò và trách nhiệm gắn liền với lợi ích thiết thân của chính doanh nghiệp”.

Đề xuất từ góc độ doanh nghiệp lữ hành, ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Giám đốc Công ty du lịch Bàn chân Việt - Vietfoot Travel chia sẻ, để nhân rộng và phát triển tốt mô hình du lịch y tế, cần chú trọng vào yếu tố cốt lõi là xây dựng liên kết vững chắc giữa các đơn vị lữ hành và các cơ sở y tế uy tín.

Khi hệ sinh thái khám, chữa bệnh của bệnh viện hoàn thiện, kết hợp mượt mà với năng lực tổ chức sản phẩm của công ty du lịch, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra một thương hiệu du lịch y tế Việt Nam đủ mạnh để hút khách quốc tế.
Ông Nguyễn Hoài Nam

Doanh nghiệp lữ hành không chỉ làm nhiệm vụ quảng bá mà còn là đơn vị thiết kế hành trình du lịch y tế, kết nối bệnh viện với các dịch vụ vận chuyển, lưu trú, chăm sóc sau điều trị và trải nghiệm phù hợp với thể trạng người bệnh.Khi sản phẩm đã hoàn thiện, một chiến lược truyền thông, quảng bá thương hiệu bài bản, nhắm trúng các thị trường mục tiêu thông qua các nền tảng số sẽ là “cú hích” cuối cùng để kích hoạt dòng khách, đưa du lịch y tế Việt Nam thực sự “cất cánh”, trở thành động lực tăng trưởng mới cho toàn bộ nền kinh tế.

Nâng chuẩn bệnh viện

nền tảng cạnh tranh của du lịch y tế

Thấy rõ việc xây dựng và thiết kế một sản phẩm du lịch y tế không nên chỉ là việc ghép một dịch vụ khám bệnh với việc di chuyển và có một chỗ lưu trú, bác sĩ chuyên khoa II Âu Thanh Tùng, Trưởng Phòng Kế hoạch tổng hợp, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất ngành y tế cần có những chính sách mang tính “đòn bẩy” để phát triển y tế du lịch.

Trước hết, cần xây dựng cơ chế thị thực y tế riêng, tạo thuận lợi cho người nước ngoài đến khám, điều trị dài ngày hoặc tái khám nhiều lần, đồng thời có quy định phù hợp cho người thân đi cùng.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế tài chính theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ y tế dành cho người bệnh quốc tế, bao gồm nhân lực chất lượng cao, thuốc, vật tư, thiết bị, công nghệ, kiểm soát nhiễm khuẩn và chăm sóc sau điều trị.

Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.

Cần tăng quyền tự chủ cho các bệnh viện công lập trong xây dựng dịch vụ quốc tế.

Đại diện bệnh viện cũng kiến nghị tăng quyền tự chủ cho các bệnh viện công lập trong xây dựng dịch vụ quốc tế, với điều kiện phải hạch toán riêng, công khai chi phí và sử dụng nguồn thu để tái đầu tư cho nhân lực, cơ sở vật chất và chất lượng điều trị. Đồng thời, cần thúc đẩy kết nối giữa bệnh viện Việt Nam với các hãng bảo hiểm quốc tế thông qua cơ chế bảo lãnh viện phí, hồ sơ song ngữ và quy trình thanh toán chuyên nghiệp.

Cuối cùng, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các bệnh viện nâng chuẩn, từ đào tạo nhân lực, tư vấn áp dụng tiêu chuẩn quốc tế đến đầu tư hạ tầng dữ liệu và các chương trình cải tiến an toàn người bệnh. Đây được xem là nền tảng để Việt Nam không chỉ có cơ sở y tế giỏi, mà còn có khả năng cạnh tranh trong thị trường du lịch y tế khu vực.

“Khả năng hội nhập của y tế Việt Nam không chỉ được đo bằng số lượng bác sĩ giỏi hay mức độ hiện đại của trang thiết bị. Năng lực cạnh tranh quốc tế cần được thể hiện qua những tiêu chí cốt lõi như kết quả điều trị, tỷ lệ biến chứng, mức độ an toàn người bệnh, tính minh bạch trong chi phí, khả năng bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm đồng hành với người bệnh ngay cả sau khi kết thúc quá trình điều trị”, bác sĩ Âu Thanh Tùng nói.

Ông cũng cho rằng, để thu hẹp khoảng cách với các hệ thống y tế tiên tiến, cần có một chương trình quốc gia hỗ trợ các bệnh viện từng bước tiếp cận và đạt các chuẩn chất lượng quốc tế như JCI, ACHS (các chuẩn đánh giá bệnh viện của Mỹ và Australia) hoặc các bộ tiêu chuẩn tương đương.

Chương trình này không chỉ dừng ở việc khuyến khích chứng nhận mà còn hướng đến tạo ra một hệ sinh thái cải tiến chất lượng, bao gồm mạng lưới chuyên gia và đánh giá viên quốc tế, tạo lập bộ tài liệu hướng dẫn thực hành bằng tiếng Việt, chương trình đánh giá khoảng cách, hệ thống chỉ số chất lượng có khả năng so sánh, cơ chế hỗ trợ tài chính cho cải tiến và đào tạo về quản trị rủi ro cho đội ngũ lãnh đạo, nhân viên y tế.

Năng lực cạnh tranh quốc tế của du lịch y tế Việt Nam cần được thể hiện qua những tiêu chí như: kết quả điều trị, tỷ lệ biến chứng, mức độ an toàn người bệnh, tính minh bạch trong chi phí, khả năng bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm đồng hành với người bệnh ngay cả sau khi kết thúc quá trình điều trị.

Năng lực cạnh tranh quốc tế của du lịch y tế Việt Nam cần được thể hiện qua những tiêu chí như: kết quả điều trị, tỷ lệ biến chứng, mức độ an toàn người bệnh, tính minh bạch trong chi phí, khả năng bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm đồng hành với người bệnh ngay cả sau khi kết thúc quá trình điều trị.

Song song với chất lượng chuyên môn, dữ liệu y tế là yếu tố quyết định khả năng kết nối trong môi trường chăm sóc sức khỏe toàn cầu. Việt Nam cần sớm xây dựng hướng dẫn triển khai HL7 FHIR (tiêu chuẩn quốc tế cho phép các hệ thống y tế trao đổi dữ liệu an toàn và thống nhất) trên toàn quốc, chuẩn hóa danh mục thuật ngữ và mã dữ liệu, hoàn thiện cơ chế định danh người bệnh, xác thực sự đồng ý chia sẻ thông tin, bảo đảm an ninh mạng và xây dựng hành lang pháp lý cho Telemedicine xuyên biên giới.

Khi dữ liệu y tế được chuẩn hóa bằng một “ngôn ngữ chung”, việc chia sẻ thông tin điều trị giữa các cơ sở y tế, giữa Việt Nam và các quốc gia khác sẽ trở nên thuận lợi hơn. Đây không chỉ là nền tảng cho chăm sóc liên tục, mà còn là điều kiện quan trọng để y tế Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị chăm sóc sức khỏe toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch y tế.

Infographic Đơn Giản Hiện Đại
Tư duy chiến lược minh họa
Ý kiến chuyên gia

Để thu hẹp khoảng cách với các hệ thống y tế tiên tiến, cần có một chương trình quốc gia hỗ trợ các bệnh viện từng bước tiếp cận và đạt các chuẩn chất lượng quốc tế như JCI, ACHS (các chuẩn đánh giá bệnh viện của Mỹ và Australia) hoặc các bộ tiêu chuẩn tương đương.

— Bác sĩ Âu Thanh Tùng

Hiệu suất vận hành minh họa
Ý kiến chuyên gia

Bên cạnh chất lượng khám, chữa bệnh, du lịch y tế cần được phát triển như một hành trình trọn vẹn với các dịch vụ hỗ trợ đồng bộ.

— Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Tất Cường

Cho rằng việc quảng bá thương hiệu Việt Nam là một điểm đến về y tế du lịch, có sức cạnh tranh với thế giới là rất quan trọng, Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Tất Cường, Chủ tịch Hội đồng cố vấn Lâm sàng & Hoạt động đối ngoại, Hệ thống Y tế Vinmec cũng đặt ra vấn đề quan trọng nhất là Việt Nam phải tăng cường truyền thông và tích hợp y tế-du lịch-văn hóa; đẩy mạnh xúc tiến tại các thị trường mục tiêu thông qua mạng lưới ngoại giao, du lịch và đối tác quốc tế; đồng thời phát triển nền tảng thông tin du lịch y tế quốc gia đa ngôn ngữ.

Bên cạnh chất lượng khám, chữa bệnh, du lịch y tế cần được phát triển như một hành trình trọn vẹn với các dịch vụ hỗ trợ đồng bộ, từ thị thực cho bệnh nhân và người thân, di chuyển, lưu trú, thủ tục pháp lý, minh bạch chi phí, phương thức thanh toán đến bảo đảm an toàn trong suốt quá trình điều trị và trải nghiệm tại Việt Nam.

Xây dựng Việt Nam

trở thành "điểm đến an toàn" cho du lịch y tế

Muốn cạnh tranh với các trung tâm du lịch y tế trong khu vực, Việt Nam không chỉ cần bệnh viện giỏi mà còn phải xây dựng một hệ sinh thái bảo đảm an toàn, kết nối đồng bộ từ y tế, du lịch đến bảo hiểm và dịch vụ hỗ trợ.

Chia sẻ về điều này, trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, Thạc sĩ, bác sĩ nội trú Ngô Đức Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Cấp cứu và Hồi sức tích cực, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tâm sự: "Với góc độ là một khách du lịch, câu hỏi đầu tiên họ luôn đặt ra là: Tôi đến đó có được an toàn hay không? An toàn ở đây gồm hai khía cạnh rất quan trọng, đó là an toàn về an ninh và an toàn về sức khỏe".

Đội ngũ y, bác sĩ đồng hành cùng bệnh nhân xuyên suốt quá trình điều trị.

Đội ngũ y, bác sĩ đồng hành cùng bệnh nhân xuyên suốt quá trình điều trị.

Theo bác sĩ Ngô Đức Hùng, (Phó Giám đốc Trung tâm Cấp cứu và Hồi sức tích cực, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội) Việt Nam còn thiếu một hệ sinh thái giúp khách du lịch cảm thấy được bảo vệ khi xảy ra biến cố y tế. Đây là một trong những yếu tố đang quyết định năng lực cạnh tranh của nhiều điểm đến trên thế giới nhưng lại chưa được nhìn nhận đầy đủ ở Việt Nam.

Hệ sinh thái đó không bắt đầu từ phòng cấp cứu của bệnh viện mà từ những mắt xích xuất hiện ngay trong cộng đồng: các trạm sơ cứu, thiết bị cấp cứu công cộng, mạng lưới cứu hộ, hệ thống vận chuyển cấp cứu, bệnh viện được phân tầng rõ ràng, cơ chế kết nối với bảo hiểm du lịch và các hướng dẫn để du khách có thể tiếp cận dịch vụ y tế nhanh nhất.

Nhìn vào những quốc gia thành công trong thu hút bệnh nhân quốc tế như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc hay Nhật Bản, dễ nhận thấy họ không hẳn vượt trội Việt Nam ở từng yếu tố riêng lẻ. Điểm khác biệt nằm ở cách các quốc gia này biến những lợi thế đó thành một chuỗi dịch vụ hoàn chỉnh. Du lịch, y tế, bảo hiểm, hàng không, ngoại giao và chính sách không vận hành như những lĩnh vực riêng biệt mà được kết nối thành một hệ sinh thái thống nhất.

Infographic Đơn Giản Hiện Đại
Tư duy chiến lược minh họa
Ý kiến chuyên gia

Việt Nam còn thiếu một hệ sinh thái giúp khách du lịch cảm thấy được bảo vệ khi xảy ra biến cố y tế.

— Bác sĩ Ngô Đức Hùng

Hiệu suất vận hành minh họa
Ý kiến chuyên gia

Từ dự thảo Đề án Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030, các cơ quan chức năng cần trình Chính phủ một chiến lược tổng thể để phát triển du lịch y tế nhằm biến Việt Nam trở thành một điểm đến nổi bật về du lịch y tế và chăm sóc sức khỏe trong thời gian tới.

— Viện trưởng Kinh tế du lịch Nguyễn Anh Tuấn

Sâu hơn, nếu xét riêng trong hệ thống y tế, hiện Việt Nam vẫn thiếu một chiến lược tổng thể để kết nối các "mắt xích" của hệ sinh thái để tạo dựng nên một “Quốc gia an toàn” khi từ cấp cứu ngoại viện, mạng lưới phản ứng nhanh, các trạm sơ cứu cộng đồng, hệ thống bảo hiểm, cơ chế phối hợp giữa bệnh viện với doanh nghiệp du lịch, cho đến bản đồ số định vị các thiết bị cấp cứu... hầu hết vẫn đang phát triển rời rạc.

Bộ Y tế đang xây dựng Đề án Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030 nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân”.

Theo Tiến sĩ Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Đề án tập trung vào sáu nhóm nhiệm vụ lớn: hoàn thiện thể chế; xây dựng cơ chế điều phối liên ngành; phát triển sản phẩm và chuỗi giá trị; nâng cao chất lượng dịch vụ và nhân lực; xây dựng thương hiệu quốc gia; thúc đẩy chuyển đổi số và hợp tác quốc tế. Mục tiêu là từng bước đưa du lịch y tế trở thành lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao, góp phần nâng cao chất lượng hệ thống y tế và định vị Việt Nam là điểm đến y tế uy tín trong khu vực.

Việt Nam nỗ lực từng bước đưa du lịch y tế trở thành lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao, góp phần nâng cao chất lượng hệ thống y tế và định vị Việt Nam là điểm đến y tế uy tín trong khu vực.

Việt Nam nỗ lực từng bước đưa du lịch y tế trở thành lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao, góp phần nâng cao chất lượng hệ thống y tế và định vị Việt Nam là điểm đến y tế uy tín trong khu vực.

Viện trưởng Kinh tế Du lịch Nguyễn Anh Tuấn đề xuất, từ dự thảo Đề án Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030, các cơ quan chức năng cần trình Chính phủ một chiến lược tổng thể để phát triển du lịch y tế nhằm biến Việt Nam trở thành một điểm đến nổi bật về du lịch y tế và chăm sóc sức khỏe trong thời gian tới. Điều này có thể trở thành lợi thế để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Việc xây dựng thương hiệu quốc gia sẽ có thêm điều kiện thuận lợi khi Việt Nam đăng cai Hội nghị cấp cao APEC 2027. Việt Nam cũng đang xây dựng và định vị thương hiệu quốc gia "Du lịch y tế Việt Nam", dự kiến đưa vào sử dụng từ năm 2027 khi Việt Nam đăng cai Hội nghị cấp cao APEC.

APEC 2027 không chỉ là một sự kiện đối ngoại quan trọng mà còn là cơ hội để Việt Nam giới thiệu với bạn bè quốc tế năng lực của một nền y tế hiện đại, an toàn và hội nhập. Đây cũng là dịp để các bệnh viện Việt Nam khẳng định chất lượng chuyên môn, khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn quốc tế và sự sẵn sàng phục vụ các đoàn đại biểu cấp cao. Nếu tạo được niềm tin với các đại biểu, doanh nhân và đối tác quốc tế, hiệu ứng lan tỏa sẽ vượt ra ngoài khuôn khổ của sự kiện, mở rộng cơ hội hợp tác về đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển du lịch y tế trong nhiều năm tiếp theo.

Du lịch y tế chỉ có thể trở thành ngành dịch vụ có giá trị cao khi Việt Nam không chỉ xuất khẩu năng lực chữa bệnh, mà còn tạo dựng được một hành trình chăm sóc sức khỏe toàn diện, an toàn và đáng tin cậy. Khi các mắt xích từ bệnh viện, doanh nghiệp du lịch, bảo hiểm, công nghệ đến chính sách được kết nối thành một hệ sinh thái thống nhất, Việt Nam sẽ có cơ sở để cạnh tranh trong thị trường du lịch y tế khu vực.

Interactive Medical Tourism Strategy 2026-2030
Mục tiêu chiến lược tổng thể
Dự thảo đề án y tế du lịch 2026-2030

Đến năm 2030, đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm đến du lịch y tế cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á, từng bước vươn lên nhóm dẫn đầu Châu Á, với chuỗi dịch vụ đồng bộ từ y học hiện đại, y dược cổ truyền, phục hồi chức năng đến chăm sóc sức khỏe toàn diện tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng và định vị thương hiệu quốc gia về du lịch y tế Việt Nam trên trường quốc tế; mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ chất lượng cao và hạn chế tình trạng người dân ra nước ngoài khám, chữa bệnh.

Khám phá các trọng tâm cốt lõi

1

Vị thế khu vực và châu Á

Trở thành một trong những điểm đến du lịch y tế cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á, từng bước vươn lên nhóm dẫn đầu Châu Á

2

Chuỗi dịch vụ đồng bộ

Xây dựng chuỗi dịch vụ đồng bộ từ y học hiện đại, y dược cổ truyền, phục hồi chức năng đến chăm sóc sức khỏe toàn diện tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế

3

Giữ chân người bệnh trong nước

Cung cấp dịch vụ chất lượng cao, hạn chế tình trạng người dân ra nước ngoài khám, chữa bệnh.

Trọng tâm 1: Vị thế cạnh tranh khu vực Đông Nam Á và Châu Á

Định vị Việt Nam trên bản đồ y tế thế giới, thu hút khách du lịch quốc tế nhờ chi phí cạnh tranh, bác sĩ tay nghề cao và dịch vụ chăm sóc tận tâm.

Loạt bài

DU LỊCH Y TẾ:
CUỘC ĐUA MỚI CỦA CÁC QUỐC GIA VÀ CƠ HỘI CỦA VIỆT NAM