Trong xu thế toàn cầu chuyển dịch mạnh mẽ sang năng lượng sạch, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng gió biển hàng đầu khu vực để chuyển dịch sang ngành điện gió ngoài khơi. Việc phát triển năng lượng biển mới không chỉ mở ra cơ hội kinh tế-xã hội to lớn mà còn gắn liền với chiến lược bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và an ninh quốc phòng trên biển.

Trụ cột năng lượng

Trong nhiều thập kỷ, dầu khí là một trong những ngành kinh tế biển quan trọng nhất của Việt Nam. Nhằm gia tăng trữ lượng và sản lượng dầu khí, đặc biệt tại các khu vực tiềm năng như vùng nước sâu và xa bờ, góp phần vào việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) đã triển khai điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò dầu khí toàn thềm lục địa Việt Nam gồm: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay-Thổ Chu, Tư Chính-Vũng Mây, Hoàng Sa, Trường Sa và một số khu vực trên đất liền. Từ năm 2020 đến nay, ngành dầu khí tiếp tục ghi nhận thêm các phát hiện mới như Kèn Bầu, Sói Vàng-IX, Hà Mã Vàng-IX, Bunga Lavatera-1, Bunga Aster, Hải Sư Vàng IX và Lạc Đà Hồng. Từ nguồn tài nguyên đó, tính đến hết năm 2025, sản lượng khai thác lũy kế đạt hơn 449,6 triệu tấn dầu và khí ngưng tụ, cùng hơn 197,8 tỷ m³ khí thương phẩm, đóng góp khoảng hơn 8% tổng thu ngân sách nhà nước.

Nhưng một trong những thách thức lớn hiện nay là sự suy giảm tự nhiên của nhiều mỏ dầu khí chủ lực lớn như Bạch Hổ, Đại Hùng đang dần cạn kiệt sau hàng chục năm khai thác. Đối với khí tự nhiên, mặc dù tiềm năng còn rất lớn và được dự báo tăng trưởng trong những năm tới, song phần lớn các mỏ hiện hữu cũng đang bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng. Trong khi, các dự án trọng điểm như Lô B-Ô Môn và Cá Voi Xanh được kỳ vọng tạo động lực mới nhưng vẫn chưa đạt tiến độ như mong muốn.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Tư, Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), một trong những giải pháp hiệu quả nhất để gia tăng nguồn lực dầu khí hiện nay là thông qua ứng dụng khoa học, công nghệ và các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu, tối ưu hóa khai thác tại các mỏ đang vận hành; phát triển các mỏ nhỏ, cận biên và vùng nước sâu xa bờ.

Một trong những giải pháp hiệu quả nhất để gia tăng nguồn lực dầu khí hiện nay là thông qua ứng dụng khoa học, công nghệ và các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu, tối ưu hóa khai thác tại các mỏ đang vận hành; phát triển các mỏ nhỏ, cận biên và vùng nước sâu xa bờ.

Hiện, Viện Dầu khí Việt Nam đang nghiên cứu xây dựng bản sao số, ứng dụng AI, học máy nhằm tối ưu hóa sản xuất, nâng cao hiệu quả quản trị và vận hành cho các hệ thống, nhà máy, công trình của ngành công nghiệp năng lượng. Để giải quyết bài toán dữ liệu lớn đặc thù, Tiến sĩ Nguyễn Văn Tư cho biết, đơn vị nghiên cứu ứng dụng điện toán đám mây, hướng tới mô hình hạ tầng tính toán linh hoạt cho các bài toán xử lý địa chấn, mô phỏng và huấn luyện AI, học máy. Kết quả ban đầu cho thấy, khối dữ liệu Mega-cube cho toàn bể Cửu Long - với diện tích hơn 20.000 km² - đã được đồng bộ hóa, nâng cao chất lượng và đưa vào phục vụ trực tiếp cho công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí.

Đây được xem là hướng đi quan trọng giúp ngành dầu khí khai thác hiệu quả hơn nguồn tài nguyên hiện có, đồng thời nâng cao giá trị kinh tế của các mỏ dầu đang suy giảm sản lượng.

Ở khía cạnh khác, bên cạnh việc khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên truyền thống, kinh tế biển Việt Nam đang đứng trước cơ hội hình thành những động lực tăng trưởng mới từ quá trình chuyển đổi năng lượng xanh. Hiện, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai điều tra tiềm năng khí hydrate tại các vùng biển sâu từ 300m đến hơn 1.500m nước thuộc các bể trầm tích Phú Khánh-Tư Chính-Vũng Mây. Đến nay, khoảng 75.460km², tương đương 50% diện tích dự án, đã được khảo sát. Kết quả bước đầu xác định 14 vùng triển vọng khí hydrate loại I và 8 vùng triển vọng loại II, với tổng tiềm năng dự báo khoảng 4.418,5km³ khí methane (CH4), mở ra triển vọng về một nguồn năng lượng chiến lược trong tương lai. Nhưng trước hết, theo ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, chúng ta cần ưu tiên phát triển các ngành năng lượng sạch từ biển, nhất là điện gió ngoài khơi, nhằm góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, quốc phòng và an ninh quốc gia.

Nguồn năng lượng mới

Các đánh giá cho thấy Việt Nam có tiềm năng lớn về điện gió ngoài khơi. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (2020), tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam đạt khoảng 600GW, bao gồm 260GW móng cố định và 340GW móng nổi. Còn trong Báo cáo Đánh giá tiềm năng kỹ thuật năng lượng gió ngoài khơi Việt Nam do Cục Khí tượng Thủy văn cùng Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam công bố cho thấy, từ Ninh Thuận (cũ) đến Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) cùng vùng biển từ khu vực bắc Biển Đông, bắc và trung tâm Vịnh Bắc Bộ là những vùng có tiềm năng gió dồi dào có khả năng khai thác quanh năm, ước tính hơn 1000GW.

Theo ước tính của WB (2020), tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam đạt khoảng 600GW, bao gồm 260GW móng cố định và 340GW móng nổi.

Từ lợi thế tự nhiên đó, nhiều địa phương ven biển đang từng bước chuyển lợi thế thành hành động chính sách, chủ động chuẩn bị hạ tầng, không gian phát triển và điều kiện thu hút đầu tư cho ngành điện gió ngoài khơi. Ông Phạm Tuấn Hải, Phó Giám đốc Sở Công thương Hải Phòng cho biết, theo Quyết định 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, đến năm 2030, Hải Phòng được phát triển 4 dự án điện gió ngoài khơi với tổng công suất dự kiến 2.000MW, gồm các dự án Bắc Bộ 1.1, 1.2, 1.3 và 2.1 (mỗi dự án công suất 500MW). Giai đoạn đến năm 2050 phát triển 6 dự án có công suất 5.200MW điện gió ngoài khơi, gồm dự án điện gió ngoài khơi Bắc Bộ 1.4 công suất 700MW, Bắc Bộ 2.2 công suất 500MW cùng Bắc Bộ 4, 5, 6, 7 (mỗi dự án có công suất 1.000MW).

Theo Tiến sĩ Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, điện gió ngoài khơi có ý nghĩa bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia khi tổng công suất điện gió ngoài khơi có thể khai thác hằng năm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gấp nhiều lần tổng công suất của hệ thống điện quốc gia hiện tại. Đặc biệt, việc phát triển điện gió ngoài khơi còn có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên biển và thực hiện cam kết của Chính phủ phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Không chỉ vậy, chủ trương phát triển điện gió ngoài khơi đã được xác lập trong nhiều quyết sách quan trọng. Nghị quyết số 36 đã xác định năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới là một trụ cột đột phá trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển. Đặc biệt, Quy hoạch điện VIII phê duyệt năm 2023, đã xác định mục tiêu phát triển điện gió ngoài khơi đạt khoảng 6GW vào năm 2030 và 70-91GW vào năm 2050. Những định hướng này cho thấy quyết tâm của Việt Nam trong việc đưa điện gió ngoài khơi trở thành một động lực mới của kinh tế biển và chuyển dịch năng lượng.

Do vậy, việc kết hợp khai thác dầu khí với phát triển điện gió ngoài khơi có thể hình thành mô hình kinh tế song hành, tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

Sự giao thoa giữa dầu khí và điện gió ngoài khơi nằm ở nền tảng công nghiệp biển mà Việt Nam đã tích lũy qua nhiều thập kỷ. Các giàn khoan, chân đế dầu khí, móng turbine gió hay trạm biến áp ngoài khơi đều là những kết cấu cơ khí quy mô lớn, đòi hỏi bãi chế tạo, thiết bị nâng hạ, đội tàu chuyên dụng và quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt. Vì vậy, những năng lực này đã được tích lũy trong ngành dầu khí có thể trở thành lợi thế quan trọng để Việt Nam bước vào lĩnh vực điện gió ngoài khơi.

Không chỉ tương đồng về hạ tầng, hai lĩnh vực này còn có sự giao thoa lớn về nhân lực và quản trị không gian biển. Đội ngũ kỹ sư, công nhân dầu khí vốn quen với môi trường làm việc khắc nghiệt ngoài khơi có thể được đào tạo, chuyển đổi kỹ năng để tham gia chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo.

Phát triển song hành dầu khí và điện gió ngoài khơi giúp Việt Nam từng bước làm chủ chuỗi giá trị công nghiệp năng lượng biển.

Phát triển song hành dầu khí và điện gió ngoài khơi vì thế không chỉ giúp tận dụng hạ tầng, đội tàu, bãi chế tạo và nguồn nhân lực sẵn có, mà còn giảm chi phí đầu tư, hạn chế lãng phí, rút ngắn thời gian hình thành ngành công nghiệp mới. Quan trọng hơn, cách tiếp cận này giúp Việt Nam từng bước làm chủ chuỗi giá trị công nghiệp năng lượng biển.

Tuy vậy, chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi trong nước hiện mới đang ở giai đoạn hình thành, còn nhiều hạn chế. Cụ thể, năng lực chế tạo trong nước mới chỉ dừng lại ở một số giai đoạn thi công cụ thể và thiếu tính đồng bộ, chủ yếu thi công theo đơn hàng xuất khẩu với tiêu chuẩn kỹ thuật khách hàng quốc tế đặt ra; các thiết bị quan trọng như turbine, cáp ngầm và thậm chí là vật tư chính như thép tấm vẫn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nhà cung cấp quốc tế.

Phân tích thêm về vấn đề này, đại diện Tập đoàn PVN cho biết, hạ tầng cảng biển và dịch vụ hậu cần chưa đáp ứng được yêu cầu của những dự án quy mô lớn, sự tham gia của các doanh nghiệp nội địa còn rời rạc, chưa hình thành một hệ sinh thái công nghiệp hoàn chỉnh. Về nguồn nhân lực, có thể kế thừa lực lượng lao động dồi dào và đội ngũ kỹ sư, công nhân tay nghề cao trong ngành dầu khí, xây dựng biển, cơ khí chế tạo. Đây là lợi thế lớn để bước vào lĩnh vực điện gió ngoài khơi. Tuy nhiên, sự khác biệt về công nghệ, tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là yêu cầu khắt khe trong thi công-lắp đặt turbine, vận hành-bảo dưỡng (O&M) điện gió, cho thấy lực lượng lao động hiện nay chưa được đào tạo chuyên sâu và đồng bộ.

Thực tế cho thấy, khoảng cách giữa “kinh nghiệm dầu khí” và “chuẩn mực điện gió quốc tế” vẫn còn rõ rệt, nếu không sớm đầu tư bài bản sẽ dẫn đến tình trạng phải phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài trong thời gian dài. Ngoài ra, về dịch vụ liên quan, mặc dù Việt Nam đã có kinh nghiệm nhất định trong khảo sát địa chất, hải văn, logistics biển, nhưng các dịch vụ này chưa đồng bộ, thiếu sự liên kết trong chuỗi tổng thể. Chẳng hạn, dịch vụ khảo sát địa chất-hải văn ngoài khơi vẫn phụ thuộc nhiều vào nhà thầu quốc tế; dịch vụ logistics và vận tải biển chủ yếu ở mức hỗ trợ, chưa đủ năng lực để thực hiện trọn gói các giải pháp cho dự án quy mô lớn; dịch vụ tài chính-bảo hiểm trong nước chưa có nhiều sản phẩm chuyên biệt cho ngành điện gió ngoài khơi.

Thêm vào đó, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay đối với phát triển điện gió ngoài khơi là khung pháp lý và chính sách chuyên biệt vẫn chưa được hoàn thiện. Dù điện gió ngoài khơi đã được nhắc đến nhưng vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật riêng điều chỉnh toàn diện lĩnh vực này, từ khảo sát, giao khu vực biển, lựa chọn nhà đầu tư, thẩm định dự án, đánh giá tác động môi trường đến cơ chế giá điện và huy động vốn.

Điện gió ngoài khơi cần một cơ chế hỗ trợ riêng biệt, ổn định và đủ sức tạo niềm tin cho nhà đầu tư.

Ở Luật Biển Việt Nam năm 2012 có đề cập việc giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên, song chưa có hướng dẫn riêng đối với việc giao khu vực biển cho các dự án năng lượng tái tạo ngoài khơi. Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 cũng chủ yếu điều chỉnh một số hoạt động nghiên cứu khoa học trên biển, nhưng chưa bao quát đầy đủ hoạt động khảo sát, xây dựng và vận hành các dự án kinh tế biển có vốn đầu tư tư nhân như điện gió ngoài khơi. Trong khi đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 chưa có quy định và hướng dẫn đặc thù về đánh giá tác động môi trường đối với các dự án năng lượng tái tạo trên biển, nơi có hệ sinh thái nhạy cảm, điều kiện kỹ thuật phức tạp và yêu cầu giám sát dài hạn.

Bên cạnh khoảng trống pháp lý, hệ thống chính sách khuyến khích phát triển điện gió ngoài khơi cũng chưa tương xứng với tính chất đặc thù của lĩnh vực này. Với chi phí đầu tư ban đầu rất lớn, yêu cầu công nghệ cao, rủi ro khảo sát lớn và thời gian hoàn vốn dài, điện gió ngoài khơi cần một cơ chế hỗ trợ riêng biệt, ổn định và đủ sức tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, Việt Nam hiện vẫn chưa có cơ chế giá điện chuyên biệt, chưa có chính sách rõ ràng về ưu đãi thuế, phí, tiền thuê khu vực biển, bảo lãnh rủi ro hay các công cụ tài chính dài hạn cho dự án điện gió xa bờ.

Có thể nói, đây không còn là câu chuyện khó khăn riêng của một nguồn năng lượng tái tạo mới, mà còn là phép thử đối với năng lực quản trị không gian biển, điều phối liên ngành và xây dựng thể chế cho các ngành kinh tế biển hiện đại trong giai đoạn tới.

Cần hoàn thiện thể chế và xây dựng cơ chế ưu đãi đặc thù

Hiện nay, với mô hình kinh tế song hành giữa dầu khí và năng lượng tái tạo ngoài khơi có thể trở thành động lực hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng quy mô lớn. Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành 2 trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng tại các khu vực có tiềm năng. Đây là cơ sở quan trọng để thúc đẩy các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển những trung tâm năng lượng tại Bắc Bộ và Nam Bộ.

Theo đại diện Tập đoàn PVN, nhà nước cần có chính sách ưu đãi đầu tư, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đơn giản hóa thủ tục mở rộng bãi chế tạo, nâng cấp cảng biển, logistics và đội tàu chuyên dụng. Đồng thời, cần tạo hành lang pháp lý để các doanh nghiệp dịch vụ dầu khí tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo ngoài khơi, trong đó có cơ chế hỗ trợ chuyển đổi công năng tàu, liên doanh quốc tế và nâng cao tiêu chuẩn kỹ thuật.

Về nhân lực, cần có các chương trình đào tạo, đào tạo lại và chuyển giao kỹ năng cho lực lượng lao động dầu khí, tập trung vào lắp đặt, vận hành turbine gió, kéo thả, bảo dưỡng cáp ngầm và tuân thủ các chuẩn mực an toàn, sức khỏe, môi trường theo thông lệ quốc tế. Nhà nước cũng có thể xây dựng cơ chế điều phối nguồn nhân lực kỹ thuật giữa dầu khí và năng lượng tái tạo nhằm sử dụng hiệu quả đội ngũ hiện có, duy trì việc làm ổn định và phục vụ tiến trình chuyển dịch năng lượng.

Để phát triển điện gió ngoài khơi không dừng lại ở tiềm năng, trước hết cần hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ, minh bạch và chuyên biệt.

Và để phát triển điện gió ngoài khơi không dừng lại ở tiềm năng, Tiến sĩ Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển cho biết, trước hết cần hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ, minh bạch và chuyên biệt. Trọng tâm là rà soát, sửa đổi các quy định còn chồng chéo trong Luật Điện lực, pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, cùng các văn bản liên quan; đồng thời sớm ban hành nghị định riêng về cấp phép khảo sát, lập dự án, giao khu vực biển, đánh giá tác động môi trường và khai thác điện gió ngoài khơi. Về dài hạn, có thể xem xét cơ chế thí điểm để tạo hành lang pháp lý ổn định cho lĩnh vực mới này.

Cùng với đó, cần có chính sách ưu đãi đủ mạnh để thu hút đầu tư tư nhân trong nước và quốc tế, bao gồm cơ chế giá điện hoặc đấu thầu cạnh tranh phù hợp, ưu đãi thuế, phí, tiền thuê khu vực biển, hỗ trợ tín dụng và các công cụ tài chính dài hạn. Chính sách phát triển điện gió ngoài khơi cũng cần gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ, nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp phụ trợ và chuỗi cung ứng trong nước.

Trong tiến trình đó, hợp tác quốc tế cũng cần được triển khai có chọn lọc, ưu tiên các đối tác có năng lực công nghệ, kinh nghiệm phát triển điện gió ngoài khơi và cam kết chuyển giao thực chất.

Những giải pháp trên sẽ là hướng đi để Việt Nam vừa giữ vững an ninh năng lượng, vừa thúc đẩy chuyển dịch xanh, vừa tạo thêm nền tảng hiện thực hóa khát vọng quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển trong giai đoạn phát triển mới.

Ngày xuất bản: 11/6/2026
Chỉ đạo thực hiện: Đinh Song Linh
Nội dung: Tiến Đức, Bích Liên, Trần Thường, Ngọc Hiếu, Quang Thọ, Xuân Trường, Thanh Hải, Công Vinh
Trình bày: Trung Hưng
Ảnh: PVN, VIMC, Quang Thọ, Công Vinh, Thanh Hải

E-MAGAZINE
nhandan.vn