Việc ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW là đòi hỏi khách quan của tiến trình đổi mới, nhằm tạo đột phá nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới vươn mình giàu mạnh, thịnh vượng của đất nước. Nghị quyết là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Về mặt thực tiễn, Nghị quyết khẳng định quan điểm công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; xuất phát từ yêu cầu cấp bách phải khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật; đòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; từ nhu cầu khơi thông, giải phóng mọi nguồn lực cho sự phát triển và từ nguyện vọng chính đáng của người dân, doanh nghiệp về một môi trường pháp lý minh bạch, công bằng và hiệu quả.
Mục tiêu và Tầm nhìn
Có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, bảo đảm cơ sở pháp lý, mở đường cho kiến tạo phát triển, để đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.
Cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những "điểm nghẽn" do quy định pháp luật.
Hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản pháp luật bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy Nhà nước theo mô hình chính quyền 3 cấp.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, góp phần đưa môi trường đầu tư của Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật, phát huy cao độ tính Đảng trong xây dựng và thi hành pháp luật.
- Các cấp ủy đảng phải lãnh đạo toàn diện, trực tiếp việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật và tăng cường kiểm tra, giám sát công tác này.
- Xác định xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật và kiểm tra, giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, thường xuyên của các bộ, ngành Trung ương.
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan của Quốc hội cơ cấu ít nhất một lãnh đạo có chuyên môn pháp luật. Các cấp ủy địa phương quan tâm phân công cấp ủy viên phụ trách công tác tư pháp và cơ cấu Giám đốc Sở Tư pháp tham gia cấp ủy cấp tỉnh.
2. Đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý Nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực phát triển.
- Công tác xây dựng pháp luật phải thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng; xuất phát từ lợi ích toàn cục của đất nước.
- Coi trọng, chủ động nghiên cứu chiến lược, chính sách từ sớm, từ thực tiễn, từ kinh nghiệm của thế giới, góp phần tăng cường tính dự báo và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật.
3. Tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
- Phát huy cao độ tinh thần phục vụ nhân dân, tư duy kiến tạo phát triển, hành động vì lợi ích chung của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
- Tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội.
- Chú trọng công tác giải thích pháp luật và hướng dẫn áp dụng pháp luật để bảo đảm sức sống của văn bản quy phạm pháp luật.
- Đề cao công tác phòng ngừa, cảnh báo vi phạm pháp luật đi đôi với việc tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra, phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật.
4. Nâng cao hiệu quả công tác hợp tác quốc tế, pháp luật quốc tế.
- Hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực của các cơ quan, tổ chức Việt Nam để bảo đảm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý quốc tế, định hình trật tự pháp lý quốc tế.
- Thực hiện cơ chế đặc biệt thu hút, xét tuyển, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao, có kinh nghiệm thực tiễn về pháp luật quốc tế và hợp tác quốc tế về pháp luật, giải quyết tranh chấp quốc tế.
- Mở rộng hợp tác quốc tế về pháp luật và tư pháp.
5. Xây dựng giải pháp đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật.
- Thực hiện chính sách đặc thù, vượt trội, áp dụng chế độ thù lao, thuê khoán tương xứng để thu hút, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tham gia các nhiệm vụ, hoạt động xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật.
- Nâng cao chất lượng đào tạo luật, phát triển các cơ sở đào tạo luật trọng điểm có uy tín. Xây dựng chuẩn đào tạo đối với các chức danh tư pháp và bổ trợ tư pháp.
- Quan tâm đầu tư nâng cao chất lượng của các cơ sở nghiên cứu chiến lược, chính sách, các cơ sở nghiên cứu pháp luật của các cơ quan Trung ương.
6. Tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
- Ưu tiên nguồn lực xây dựng, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu lớn, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ đổi mới, hiện đại hóa công tác xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm "đúng, đủ, sạch, sống".
- Ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số đồng bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, đăng ký biện pháp bảo đảm. Có chính sách thúc đẩy doanh nghiệp công nghệ số phát triển, cung cấp các dịch vụ, tiện ích số trong lĩnh vực pháp luật.
- Áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đối với hoạt động chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
7. Thực hiện cơ chế tài chính đặc biệt cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
- Đổi mới cơ chế phân bổ, quản lý, sử dụng ngân sách dành cho công tác xây dựng pháp luật trên nguyên tắc kịp thời, đúng, đủ và gắn với khoản chi theo kết quả, sản phẩm của từng nhiệm vụ, hoạt động.
- Bảo đảm chi cho công tác xây dựng pháp luật không thấp hơn 0,5% tổng chi ngân sách hằng năm và tăng dần theo yêu cầu phát triển.
- Bố trí nguồn ngân sách phù hợp, tương xứng cho công tác tổ chức thi hành pháp luật.
MỘT SỐ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Cơ bản hoàn thành tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật
Đã rà soát, xác định trong 2.088 phản ánh, kiến nghị, có 1.300 phản ánh, kiến nghị được xác định là không phải là khó khăn, vướng mắc cần trả lời, công khai và 787 phản ánh, kiến nghị có khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật. Trong 787 phản ánh, kiến nghị có khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật, có 470 phản ánh, kiến nghị cần được xử lý ngay trong năm 2025.
Kết quả Thực hiện
Phản ánh được trả lời
Đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử của bộ, cơ quan và Cổng Pháp luật quốc gia.
Tiến độ xử lý năm 2025
Lộ trình năm 2026
Phản ánh, kiến nghị
Xử lý theo các phương án, lộ trình trong năm 2026.
Nhiều khó khăn, vướng mắc trong lĩnh vực tài chính, đầu tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tư pháp, an ninh trật tự đã được tháo gỡ, xử lý.
Như vậy, mục tiêu “Năm 2025, cơ bản hoàn thành việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định pháp luật” được xác định tại Nghị quyết số 66-NQ/TW đã hoàn thành.
NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật
Ngày 30/4, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Báo Nhân Dân xin trân trọng giới thiệu toàn văn nghị quyết.
Gỡ vướng thể chế để thúc đẩy tăng trưởng, khơi thông mọi nguồn lực
Trước yêu cầu mới, Nghị quyết 66-NQ/TW nhấn mạnh phải đổi mới mạnh mẽ, tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn, coi hoàn thiện thể chế là “đột phá của đột phá”.
Các đơn vị thực hiện:
Ban Xây dựng Đảng, Ban Điện tử, Cơ quan đại diện Báo Nhân Dân tại miền Nam