Điều đáng sợ nhất với nhà văn không phải là nghèo hay bận rộn, mà là không viết được. Nhà văn Bùi Anh Tấn cũng đã từng rơi vào khủng hoảng nhiều năm không viết nổi một dòng. Có những khoảng lặng kéo dài vài năm, có những cuốn tiểu thuyết mất chục năm trời mới ra đời, nhưng nghiệp văn chương của ông là thế, luôn đặt ra những thách thức với nội lực ngòi bút của mình. Sinh năm Giáp Ngọ, ông dường như cũng mang những đặc trưng của con giáp này, luôn có sự bền bỉ, giàu năng lượng và một tinh thần không ngừng tìm tòi, làm mới mình qua từng tác phẩm.
Trong loạt bài đối thoại với các văn nghệ sĩ tuổi Ngọ, chúng tôi được gặp ông đầu tiên, trong cuộc hẹn chóng vánh vào chiều cuối năm tại trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đang ngồi suy tư bên những “con chữ” mà ông đã dày công theo đuổi nhiều năm qua – một cuốn tiểu thuyết về lịch sử Việt Nam hàng trăm năm trước. “Rất khó, nhưng khó mấy cũng làm”, ông cười.
Rất khó, nhưng khó mấy cũng làm!
Nhà văn Bùi Anh Tấn
Tôi vào ngành công an năm 18 tuổi, gắn bó với lực lượng công an suốt 36,5 tháng, trước khi nghỉ hưu với quân hàm Thượng tá (lương 8,1). Đến với văn chương là một sự ngẫu nhiên. Sau khi trở thành nhà văn trong lực lượng công an, tôi được kết nạp Hội Nhà văn Việt Nam, sau đó được bầu làm Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, được Hiệp thương làm Phó chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021, được bổ nhiệm làm TBT Tạp chí Văn nghệ thành phố, đến nay được 5 năm.
Hơn 30 năm cầm bút, tôi đã xuất bản hơn 20 cuốn tiểu thuyết, viết trên 100 tập phim truyền hình đã được phát sóng, cùng rất nhiều truyện ngắn và bài báo. Chẳng thể nhớ hết nổi. Nhưng có những cuốn là dấu ấn trong đời.
Chẳng thể nhớ hết nổi. Nhưng có những cuốn là dấu ấn trong đời.
Một trong những dấu ấn lớn nhất là tôi thuộc số những nhà văn đầu tiên ở Việt Nam viết tiểu thuyết về đề tài đồng tính, sau Xuân Diệu. Những năm 1990, xã hội còn rất khép kín, chưa có internet, tư liệu vô cùng hiếm hoi. Khi ấy, nhận thức về giới tính rất mơ hồ, xã hội vừa không hiểu người trong cuộc, vừa nhìn họ bằng định kiến. Đó là một thế giới nhiều bi hài. Nhờ công việc công an, tôi có điều kiện tiếp xúc với những người làm văn hóa, dần tìm hiểu, tích lũy và hình thành tiểu thuyết. Tôi viết bằng cả tấm lòng, còn thành công thì nằm ngoài mong đợi.
Trong nghề văn có nghịch lý hay lắm, có những thứ mình tâm đắc thì bạn đọc không đón nhận, ngược lại có những tác phẩm mình viết tưởng “phất phơ” lại được yêu thích. Bởi vậy, thành công luôn là kết quả của sự khổ công, kiên nhẫn và cặm cụi.
Ngoài đề tài giới tính, tôi tự hào là một trong số ít nhà văn (cũng có thể là nhà văn Việt Nam đầu tiên?) viết được hai tiểu thuyết lớn về tôn giáo: Không và Sắc (Phật giáo) và Tin Mừng (Công giáo).
Để viết Không và Sắc, tôi theo học tại chức bốn năm tại Học viện Phật giáo Vạn Hạnh để hiểu giáo lý Phật giáo. Sau đó, tôi dành gần 10 năm chỉ đọc và nghiên cứu Công giáo để viết tiểu thuyết Tin Mừng. Cả 2 tác phẩm đều được tái bản nhiều lần và được đánh giá tốt, đặc biệt với giới chức sắc, tín đồ của hai tôn giáo lớn này.
Mảng thứ ba mà tôi rất dày công đầu tư viết là lịch sử. Viết lịch sử là thử thách lớn vì phải tôn trọng sử liệu chính thống, nghiên cứu công phu. Tôi không viết “mượn lịch sử”, mà viết đúng tinh thần lịch sử, dù nhà văn vẫn phải tái hiện cụ thể, sinh động. Máy tính của tôi đang viết dở khoảng 100 trang về nhân vật Hoàng Ngũ Phúc. Tôi nghĩ đây sẽ là một câu chuyện rất hay về nhân vật thái giám ngày xưa.
Sau giải phóng, đất nước trải qua nhiều biến động: chiến tranh biên giới, bảo vệ biển đảo, công cuộc chống tham nhũng… Khi mới cầm bút, tôi từng nghĩ phải viết đề tài lớn mới thành danh. Nhưng sau hơn 3- năm, tôi nhận ra không phải đề tài quyết định, mà là tài năng. Một nhà văn có tài có thể viết về một con hẻm nhỏ hay một gia đình bình thường vẫn hấp dẫn.
Thành phố Hồ Chí Minh cho tôi bài học ấy: đời sống phong phú, chuyển động không ngừng. Điều chúng ta còn thiếu là những cây bút đủ tầm để viết ra những tác phẩm xứng đáng với tầm vóc của thời đại.
Với người nghệ sĩ, tự do sáng tạo luôn là điều được đặt lên hàng đầu. Ai là nghệ sĩ cũng nghĩ đến tự do trong sáng tác, tôi cũng vậy. Nhưng vấn đề là: tự do ấy đi đến đâu và cuối cùng phục vụ cho điều gì.
Vào những năm thập niên 1930 của thế kỷ 20 nhà phê bình Hải Triều đã từng có những cuộc tranh luận lớn về chuyện sáng tác nên phục vụ cái gì, phục vụ ai? Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh. Với tôi, câu trả lời rõ ràng: sáng tác phải phục vụ nhân sinh. Nếu nói phục vụ tự do, thì tự do ấy là phục vụ ai?
Tôi rất trân trọng và coi trọng tự do trong sáng tác, sự khoáng đạt trong chữ nghĩa. Nhưng tự do không có nghĩa là viết trong trạng thái “không hướng đến đâu cả”. Sáng tác cần xuất phát từ tấm lòng chân thành, nhưng đồng thời phải trả lời được câu hỏi: viết cho ai, hướng tới ai.
Bạn đọc của tôi là nhân dân, và sáng tác của tôi hướng đến họ, hướng đến những giá trị chân–thiện–mỹ, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Vì thế, tôi luôn mong muốn có tự do sáng tạo, nhưng là một thứ tự do có mục đích phục vụ nhân dân và Tổ quốc mình.
Bạn đọc của tôi là nhân dân, và sáng tác của tôi hướng đến họ, hướng đến những giá trị chân-thiện-mỹ, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.
Nhà văn Bùi Anh Tấn
Trong đời viết, có những cuốn được đầu tư rất kỳ công, được giới chuyên môn đánh giá cao nhưng lại không thật sự phổ biến với đông đảo bạn đọc. Ngược lại, có những cuốn như Một thế giới đàn bà được bạn đọc đón nhận nhiều hơn. Điều đó là bình thường trong sáng tác.
Riêng tôi, điều khiến tôi tự hào nhất là hai cuốn tiểu thuyết viết về đề tài tôn giáo. Đó là những tác phẩm được hoàn thành sau rất nhiều khó khăn, trăn trở, và cuối cùng đã được ghi nhận. Với tôi, đó là một hành trình dấn thân đúng nghĩa của người cầm bút.
Với người nghệ sĩ, tự do sáng tạo luôn là điều được đặt lên hàng đầu.
Tôi rất trân trọng và coi trọng tự do trong sáng tác, sự khoáng đạt trong chữ nghĩa.
Nhà văn Bùi Anh Tấn
Tôi luôn mong muốn có tự do sáng tạo, nhưng là một thứ tự do có mục đích phục vụ nhân dân và Tổ quốc mình.
Có lẽ điều đó phần nào nằm trong tính cách của tôi. Nếu chỉ viết những câu chuyện đơn giản, những mối quan hệ tay ba, tay tư thì không quá khó. Nhưng tôi thường chọn những đề tài đòi hỏi phải đọc nhiều, nghiên cứu kỹ và tìm tòi trong thời gian dài.
Mỗi nhà văn đều có một “tạng” văn chương riêng, một con đường riêng để lựa chọn. Có người viết ngôn tình, có người viết đam mỹ, có người theo đuổi những thể nghiệm mới, có người cả đời chỉ theo đuổi một đề tài… Tôi nghĩ điều đó hoàn toàn bình thường và tôi tôn trọng sự lựa chọn sáng tác của mỗi nhà văn. Vấn đề không phải là ai viết hay hơn ai, mà là mỗi nhà văn đều chịu trách nhiệm với lựa chọn đề tài và chữ nghĩa của mình. Nếu lúc nào cũng đặt câu hỏi so sánh đề tài hơn – kém, rất dễ rơi vào cảm giác kiêu ngạo hoặc làm phiền chính mình và người khác.
Điều đáng sợ nhất với nhà văn, theo tôi, là không thể viết được nữa. Tôi từng trải qua một giai đoạn khủng hoảng như vậy vào những năm làm việc tại Nhà xuất bản Công an, khoảng đầu những năm 2010. Khi ấy, dù có câu chuyện trong đầu, có ý tưởng, nhưng khi ngồi trước máy tính lại không thể viết ra được dòng nào. Tôi chỉ có thể viết những truyện ngắn để đăng báo, như một cách tự cứu mình.
Cảm giác đó giống như câu nói của Nguyễn Tuân về “pháp trường trắng” – đứng trước trang giấy trắng mà bất lực. Tình trạng ấy kéo dài gần hai năm.
Tôi vẫn làm việc bình thường, nhưng trong lòng là một cuộc khủng hoảng thực sự. Sau đó, tôi quay lại với việc viết về lịch sử, và dần dần tìm lại được mạch viết của mình.
Với nhà văn, nỗi sợ lớn nhất không phải là bận rộn, mà là không còn viết được. Không phải cứ rảnh rỗi là viết được. Ngược lại, nhiều khi càng bận, càng nhiều chữ nghĩa chung quanh, người ta lại có thể ngồi xuống và viết. Còn khi rơi vào trạng thái không viết được, đó mới thực sự là điều đáng sợ.
Tôi trăn trở về chính sách phát triển văn hóa đọc. Nhiều hoạt động hện nay vẫn còn mang tính phong trào, hình thức, chưa thực sự đi vào chiều sâu đời sống xã hội.
Người trẻ ngày càng ít đọc sách. Nếu không có giải pháp căn cơ, văn hóa chữ nghĩa sẽ bị bào mòn, đạo đức xã hội sẽ bị xuống cấp.
Tình người sẽ mất đi nếu không còn chữ nghĩa, liệu có một ngày nào đó AI (Trí tuệ Nhân tạo) sẽ nghĩ thay, làm thay chúng ta không?
Tôi nghĩ khi mình viết văn, mỗi nhà văn khi viết thông qua tác phẩm là đứa con tinh thần có gửi gắm trong đó. Có những gửi gắm rõ ràng, có cái mang tính thầm kín, sâu xa, có gửi gắm nhận ra liền, có người tri âm tri kỷ mới biết là mình nói gì trong đó. Nên trong mỗi tác phẩm là đứa con thai nghén nhanh vài tháng, chậm năm-mười năm.
Năm ngoái, tiểu thuyết Hồi sức sĩ quan tùy viên tôi viết mất gần chục năm, nhưng rất tiếc bị chìm nhanh. Trách ai nếu không là tự trách mình “bất tài” chăng? Mỗi tác phẩm nhà văn đều muốn gửi gắm nói điều gì đó với xã hội, thông qua lăng kích nhà văn có thể khách quan, nhưng chủ quan nhiều hơn.
Hãy là chính mình, dù hay dở, cũng là chính mình, tôi nghĩ thế và khuyên các bạn trẻ mới vào con đường văn chương.
Có nhiều vấn đề đơn giản đến nhạy cảm, nhất là bây giờ nhiều chuyện, có sự nhạy cảm buộc nhà văn phải cân phân khi cầm bút. Tuy nhiên nếu viết được, xuất bản được, được dư luận đón nhận thì đó là “tài” của nhà văn. Không nên sợ hãi, né tránh mà là sự chọn lựa con chữ của nhà văn khi thể hiện qua trang sách.
Cuối cùng, phán xét tác phẩm là xã hội, là bạn đọc vì có những nhà văn chết vài chục năm mới nổi tiếng giống hội họa. Có những nghề mình giấu dốt được nhưng với nhà văn không giấu được vì chữ nghĩa phơi bày trên tác phẩm và bạn đọc biết ngay và dư luận phán xét ngay nhất là dư luận mạng xã hội mạnh mẽ như hiện nay. Thi thoảng qua mạng xã hội, bạn đọc vẫn phát hiện hiện tượng “ăn cắp” tác phẩm (nhất là thơ, văn xuôi là truyện ngắn) của những tác giả đã mất, tác giả nước ngoài… khi sự thật bị phơi bày, đó là sự bẽ bàng của người viết. Là “ý tưởng lớn gặp nhau?”, là “vay mượn cấu tứ…”
Có nói gì đi nữa cũng là điều đáng buồn cho người viết lẫn bạn đọc không được tôn trọng. Hãy là chính mình, dù hay dở, cũng là chính mình, tôi nghĩ thế và khuyên các bạn trẻ mới vào con đường văn chương.
Điều khiến tôi trăn trở nhất hiện nay là chính sách đối với văn học nghệ thuật, đặc biệt là văn hoá đọc. Chúng ta có nhiều hoạt động như đường sách, ngày hội sách, ngày văn hoá đọc… nhưng phần lớn vẫn mang tính phong trào, hình thức, chưa thật sự đi sâu vào đời sống.
Thực tế là giới trẻ hôm nay chủ yếu tiếp nhận thông tin bằng cách “lướt”, “quẹt” trên các thiết bị số. Ra bến tàu, bến xe, rất hiếm khi còn thấy người cầm sách đọc. Nếu tình trạng này kéo dài, văn chương chữ nghĩa, sách vở sẽ ngày càng bị thu hẹp không gian tồn tại.
Theo tôi, các chính sách không nên chỉ dừng ở các chỉ thị hay khẩu hiệu, mà cần đi vào thực chất đời sống. Chẳng hạn, cần có những cuộc điều tra xã hội học nghiêm túc: mỗi người đọc bao nhiêu đầu sách một năm, đọc sách gì, đọc bằng hình thức nào… Từ đó mới có thể xây dựng những chính sách phù hợp, thiết thực, khuyến khích việc đọc sách trở lại như một nhu cầu tự nhiên của xã hội, nhất là đối với các bạn trẻ.
Ở chiều ngược lại cũng đòi hỏi những nhà văn, thơ… cần có tác phẩm hay, tiếp cận đời sống xã hội, là “tấm gương” phản chiếu hiện thực xã hội, để mỗi bạn đọc tìm thấy những điều bổ ích qua trang văn, thơ. Tất nhiên, nói thì rất dễ nhưng làm rất khó. Cần xã hội bao dung đồng hành, cần chính sách thiết thực và cần từ sự nỗi lực từ chính người cầm bút.
Nếu hỏi các bạn trẻ viết văn rằng, khi cầm bút họ nghĩ đến điều gì đầu tiên, sẽ có rất nhiều câu trả lời khác nhau. Có người nói viết để có tác phẩm, có người viết để khẳng định mình, thậm chí có người viết để chứng minh điều gì đó với người khác. Nhưng nói một cách thật lòng, với tôi, lý do giản dị nhất khi cầm bút chỉ là vì yêu văn chương.
Viết văn trước hết không phải để làm giàu. Ở Việt Nam, chúng ta không có một thị trường sách lớn như Trung Quốc. Một cuốn sách in ra thường chỉ vài nghìn bản. Ngay cả khi được tái bản, nhuận bút khoảng 10–12% cũng không đủ để một nhà văn sống bằng việc viết tiểu thuyết, bởi có những cuốn phải mất vài năm lao động mới hoàn thành, nhưng thu nhập chỉ là vài chục triệu đồng.
"Với tôi, lý do giản dị nhất khi cầm bút chỉ là vì yêu văn chương."
Nhà văn Bùi Anh Tấn
Trường hợp như nhà văn Nguyễn Nhật Ánh là đặc biệt, bởi có một lớp độc giả trung thành và được hỗ trợ tốt về truyền thông. Còn với đa số nhà văn, viết văn không mang lại sự bảo đảm về kinh tế.
Viết văn cũng không thể biết trước mình có nổi tiếng hay không. Điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tài năng, thời điểm, sự tiếp nhận của độc giả. Mà tài năng thì không thể tự xưng. Tài năng chỉ thực sự tồn tại khi được bạn đọc đón nhận và được những người cầm bút khác thừa nhận. Nó cũng không nhất thiết phải gắn với giải thưởng. Có người không cần giải thưởng vẫn được bạn đọc nhớ đến, vẫn có vị trí trong văn đàn.
Không tiền bạc, không chắc nổi tiếng, người viết văn vẫn chấp nhận ngồi lặng lẽ, gò lưng gõ từng con chữ, vượt qua khó khăn và cô đơn, chỉ để đến một ngày cầm trên tay cuốn sách của chính mình. Với nhiều người, niềm vui ấy đã là đủ.
Có người viết để gửi gắm cái tôi, có người viết để giãi bày tâm sự, nhưng tựu trung lại, tất cả đều bắt đầu từ tình yêu. Bởi vậy, với tôi, văn chương là một nghiệp, chứ không đơn thuần là một nghề.
Tôi kỳ vọng vào người trẻ, vì họ là tương lai. Thí dụ trong một cuộc Hội thảo văn học trẻ trên Đà Lạt, gần đây. Các bạn viết trẻ hỏi tôi, muốn gửi tác phẩm đến tạp chí của chú, cần gì? Tôi trả lời, không áp đặt đề tài hay đơn đặt hàng. Nhà văn cần sống trọn vẹn với thời đại mình đang sống, sáng tác bằng tình yêu với cuộc sống và hướng đến chân – thiện – mỹ. Và, quan trọng nhất, viết hay. Vậy thôi, viết cho hay.
Thành phố Hồ Chí Minh đang hướng đến xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình. Văn học phải phản ánh đúng sự chuyển động ấy, cả mặt tích cực lẫn những bất cập, để lãnh đạo và người dân cùng nhìn thấy.
Đại dịch Covid-19 là bi kịch lớn nhất trong lịch sử thành phố, nhưng cũng xuất hiệnrất nhiều điều cao đẹp về tình người giúp nhau trong gian khó, tất nhiên cũng bộc lộ chuyện này chuyện kia. Văn học phải ghi lại, phải lưu dấu những ký ức đó cho tương lai.
Điều quan trọng nhất đối với một Hội nhà văn, cần xác định đây là Hội nghề nghiệp, không phải là Hội “quản lý”. Theo tôi, Hội cần trở thành một cánh cửa rộng mở, đủ sức thu hút người viết trẻ đến với Hội và tạo điều kiện để họ được viết, được thử nghiệm trong sáng tác và trưởng thành. Các bạn trẻ hôm nay năng động hơn, có khả năng hội nhập quốc tế cao hơn, ý thức cộng đồng và tinh thần kết nối cũng mạnh mẽ hơn so với các thế hệ trước. Nếu Hội không mở ra, không đồng hành, thì rất khó giữ được sức sống lâu dài và thu hút các bạn trẻ tham gia.
Nhiệm vụ của Hội nhà văn không phải là áp đặt hay định hướng cứng nhắc, mà là tạo không gian để người viết dấn thân, đồng thời giúp họ hiểu được ranh giới nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội và giá trị lâu dài của chữ nghĩa. Khi người viết trẻ được tin tưởng, được dẫn dắt đúng cách, họ sẽ tự tìm được con đường phù hợp cho mình.
Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tư mạnh nhất cho văn học nghệ thuật. Điều đó cho thấy sự quan tâm thực chất của lãnh đạo thành phố. Nhưng để phát triển bền vững, mỗi văn nghệ sĩ phải ý thức mình là công dân của thành phố, có trách nhiệm với thành phố. Viết văn là dấn thân tự nguyện. Đã chọn thì phải chấp nhận, không than thở.
Trước đây, tôi từng được gọi là một “nhà văn Công an” nay vẫn là nhà văn công an (nghỉ hưu). Thật lòng mà nói, có lúc tôi cũng cảm thấy có lỗi với ngành Công an, bởi số tác phẩm tôi viết trực tiếp về đề tài này không nhiều – chỉ một, hai cuốn – còn lại chủ yếu là những tác phẩm viết về đời sống xã hội.
Nhưng ngay từ đầu, tôi luôn tự đặt ra cho mình những đề tài mới để thử thách bản thân, và không muốn đi theo những lối mòn quen thuộc. Thế nên đề tài sáng tác của tôi khá đa dạng, giới tính, tình yêu, chiến tranh, lịch sử, tôn giáo… Với tôi, khi đã viết về đề tài nào thì phải thực sự yêu thích và sống cùng nó. Chẳng hạn, khi viết về Phật giáo, có những giai đoạn tôi mơ thấy mình trở thành một nhà sư, đi trên con đường vắng với chuỗi tràng hạt trong tay. Đó không phải là tưởng tượng đơn thuần, mà là dấu hiệu cho thấy mình đã sống trọn vẹn trong thế giới của đề tài ấy.
Khi viết về lịch sử, tôi cố gắng tôn trọng lịch sử trước hết.
Viết như vậy cũng đồng nghĩa với việc tự đặt mình trước những thử thách không nhỏ. Những đề tài tôi chọn thường khó, thậm chí nhạy cảm – đặc biệt là khi viết về tôn giáo hay lịch sử. Với lịch sử, tôi phải đọc rất nhiều tài liệu.
Có quan điểm cho rằng lịch sử chỉ là “cái đinh treo áo”, là cái cớ để nhà văn mượn mà viết. Nhưng với tôi, khi viết về lịch sử, tôi cố gắng tôn trọng lịch sử trước hết. Dĩ nhiên, lịch sử trong sách sử chỉ là những dòng tóm lược. Còn nhiệm vụ của nhà văn là đi sâu vào chi tiết, tái hiện đời sống, con người và bối cảnh một cách sinh động, để lịch sử không chỉ được nhắc lại, mà còn được cảm nhận.
Ngày xuất bản: Tháng 2/2026
Tổ chức thực hiện: HỮU VIỆT - HỒNG VÂN
Nội dung: THẢO LÊ - THIÊN LAM
Trình bày: NGỌC DIỆP
