Tháng cao điểm chống khai thác IUU (khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định) đã được triển khai quyết liệt trên phạm vi cả nước từ ngày 15/8 đến 15/9. Thời gian tới, gỡ cảnh báo “thẻ vàng” tiếp tục là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, gắn liền với uy tín quốc gia và sự phát triển bền vững của ngành thủy sản. Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với đồng chí Võ Văn Hưng, Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường, Phó trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác IUU chung quanh vấn đề này.
Cán bộ, chiến sĩ tàu Cảnh sát biển 4038 trao cờ Tổ quốc tặng bà con ngư dân. (Ảnh: NHẬT ANH)
Cán bộ, chiến sĩ tàu Cảnh sát biển 4038 trao cờ Tổ quốc tặng bà con ngư dân. (Ảnh: NHẬT ANH)
Phóng viên: Thời gian qua, Việt Nam đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tạo chuyển biến thực chất trong công tác chống khai thác IUU. Xin Thứ trưởng chia sẻ về những kết quả nổi bật mà Việt Nam đã đạt được?
Thứ trưởng Võ Văn Hưng: Có thể khẳng định, thời gian qua, công tác chống khai thác IUU được triển khai với quyết tâm chính trị rất cao, theo hướng đồng bộ, thực chất và xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở.
Điểm nổi bật trước hết là hoàn thiện khung pháp lý; thay đổi cơ chế chỉ đạo, điều hành và phối hợp liên ngành; phát triển công cụ kiểm tra, giám sát trách nhiệm người đứng đầu được xác định rõ ràng, gắn nhiệm vụ chống IUU với uy tín quốc gia, quyền lợi của ngư dân, doanh nghiệp và mục tiêu phát triển thủy sản bền vững.
Thứ hai, Việt Nam đã từng bước thiết lập được nền tảng quản trị nghề cá dựa trên cơ sở dữ liệu và bằng chứng công khai, minh bạch. Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (VNFishbase), hệ thống giám sát hành trình tàu cá (VMS), hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT) và cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm đang được kết nối, chuẩn hóa và sử dụng ngày càng hiệu quả.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tích hợp liên thông các cơ sở dữ liệu, xây dựng và đưa vào vận hành hệ thống báo cáo điều hành chống khai thác IUU quốc gia. Theo đó, thông tin quản lý toàn trình từng chuyến biển, hồ sơ xử lý từng tàu cá vi phạm được số hóa để theo dõi, giám sát, xử lý trách nhiệm. Hệ thống báo cáo điều hành chống khai thác IUU được vận hành thống nhất trên toàn quốc để đánh giá minh bạch kết quả thực hiện, chấm điểm, xếp hạng và đánh giá sự chuyển biến trong công tác chống khai thác IUU tại các địa phương. Tính đến tháng 9/2026, cả nước đã có 80.108 tàu cá từ 6m trở lên được đăng ký, cập nhật trên VNFishbase, trong đó hơn 96% tàu cá có giấy phép khai thác còn hạn. Đây là bước tiến quan trọng để quản lý được từng con tàu, từng chủ tàu, tình trạng pháp lý và quá trình hoạt động.
Lực lượng kiểm ngư tỉnh An Giang tuyên truyền cho ngư dân các quy định về chống khai thác IUU. (Ảnh: LÊ SƠN)
Lực lượng kiểm ngư tỉnh An Giang tuyên truyền cho ngư dân các quy định về chống khai thác IUU. (Ảnh: LÊ SƠN)
Thứ ba, kiểm soát tàu cá ra, vào cảng cá, hoạt động trên biển và truy xuất nguồn gốc có chuyển biến rõ ràng. Đến nay, đã công bố mở 97 cảng cá đủ điều kiện hoạt động, chỉ định 82 cảng đủ điều kiện cho tàu cá vùng khơi cập cảng và 55 cảng đủ điều kiện xác nhận nguồn gốc thủy sản khai thác. Việc số hóa hồ sơ quá trình hoạt động từng chuyến biển trên hệ thống eCDT giúp kiểm soát chặt chẽ tàu ra, vào cảng, sản lượng bốc dỡ và hồ sơ truy xuất chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác, qua đó nâng cao tính minh bạch, hợp pháp của sản phẩm.
Thứ tư, công tác thực thi pháp luật và xử lý tàu cá vi phạm khai thác IUU đã được chấn chỉnh, cải thiện rõ rệt, số tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài đã giảm 80% so với năm 2025. Thực hiện nhiệm vụ được giao, các địa phương đã tổ chức trực ban hệ thống giám sát tàu cá 24/7, rà soát và đối khớp dữ liệu, cảnh báo sớm tàu mất kết nối hoặc vượt ranh giới để các cơ quan có thẩm quyền biết, củng cố hồ sơ và xử phạt theo quy định. Quan trọng hơn, nhận thức của đa số ngư dân và doanh nghiệp đã có chuyển biến: chống IUU không chỉ để đáp ứng yêu cầu của Ủy ban châu Âu (EC) mà còn để bảo vệ nguồn lợi, bảo vệ người làm ăn chân chính và nâng cao giá trị, uy tín của thủy sản Việt Nam. Nhờ vậy, số lượng tàu cá vi phạm quy định mất kết nối VMS và vượt ranh giới cho phép khai thác trên biển đã giảm rất mạnh.
"Tính đến tháng 9/2026, cả nước đã có 80.108 tàu cá từ 6m trở lên được đăng ký, cập nhật trên VNFishbase, trong đó hơn 96% tàu cá có giấy phép khai thác còn hạn. Đây là bước tiến quan trọng để quản lý được từng con tàu, từng chủ tàu, tình trạng pháp lý và quá trình hoạt động."
Đồng chí Võ Văn Hưng
Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường, Phó trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác IUU
Ngư dân Quảng Trị vươn khơi đánh bắt hải sản. (Ảnh: TRẦN TUYỀN)
Ngư dân Quảng Trị vươn khơi đánh bắt hải sản. (Ảnh: TRẦN TUYỀN)
Ngư dân Quảng Ngãi vươn khơi bám biển, thực hiện nghiêm quy định chống khai thác IUU. (Ảnh: LƯU HƯƠNG)
Ngư dân Quảng Ngãi vươn khơi bám biển, thực hiện nghiêm quy định chống khai thác IUU. (Ảnh: LƯU HƯƠNG)
Đội tàu cá của ngư dân Khánh Hòa vươn khơi khai thác hải sản. (Ảnh: NGUYỄN THÀNH)
Đội tàu cá của ngư dân Khánh Hòa vươn khơi khai thác hải sản. (Ảnh: NGUYỄN THÀNH)
Phóng viên: Những khó khăn của Việt Nam hiện nay trong việc ngăn chặn các hành vi khai thác IUU và đàm phán với EC về gỡ “thẻ vàng” là gì, thưa Thứ trưởng?
Thứ trưởng Võ Văn Hưng: Bên cạnh kết quả đạt được, chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận một số tồn tại chưa được khắc phục triệt để.
Trước hết là dữ liệu giữa đăng ký, đăng kiểm, cấp phép, VMS, kiểm soát tàu cá tại cảng và xử phạt ở một số nơi chưa thật sự nghiêm túc, đầy đủ, đúng tiến độ, đồng bộ và cập nhật theo thời gian thực. Một số tàu cá không đủ điều kiện vẫn chưa được quản lý thực chất, hiệu quả, có nguy cơ tham gia hoạt động bất hợp pháp.
Thứ hai, tình trạng mất kết nối VMS, vượt ranh giới, can thiệp thiết bị VMS và tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài tuy đã giảm nhưng chưa chấm dứt hoàn toàn. Việc xác minh, xử lý một số vụ việc còn kéo dài; sự phối hợp giữa một vài tỉnh, thành phố trong quản lý tàu cá hoạt động ngoài địa bàn còn chưa đạt hiệu quả và thực chất như mong muốn.
Thứ ba, số lượng tàu cá vào cảng, khai báo thông tin xuất nhập bến trên hệ thống eCDT tại một số địa phương chưa đạt yêu cầu; công tác quản lý truy xuất nguồn gốc vẫn còn nguy cơ thiếu đồng bộ, khó đối soát. Năng lực cán bộ, hạ tầng cảng cá, thiết bị và kinh phí thực hiện các nhiệm vụ chống khai thác IUU tại một số địa phương còn hạn chế, chưa đồng đều giữa các địa phương. Điều kiện kinh tế của một bộ phận ngư dân còn khó khăn, trong khi nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ, vùng lộng tiếp tục suy giảm, cho nên một số ngư dân vẫn cố tình vi phạm khai thác sai vùng.
Theo tôi, thách thức lớn nhất là biến chỉ đạo và quy định thành kết quả thực thi đồng đều, liên tục, có thể kiểm chứng trên toàn bộ hệ thống minh bạch, nhất quán. EC đánh giá không chỉ văn bản hay cam kết, mà đặc biệt coi trọng bằng chứng thực thi: dữ liệu phải khớp, hồ sơ phải đầy đủ, vi phạm phải được phát hiện và xử lý kịp thời, sản phẩm phải truy xuất được đến tàu và chuyến biển. Vì vậy, khi trao đổi với EC, điều quyết định là củng cố niềm tin bằng kết quả thực tế, giải trình được của các biện pháp tổng thể, toàn diện, ổn định lâu dài, chứ không phải bằng một chiến dịch ngắn hạn mang tính đối phó.
Phóng viên: Việt Nam cần làm gì để khắc phục các khuyến nghị của EC tại đợt thanh tra lần thứ 5, thưa Thứ trưởng?
Thứ trưởng Võ Văn Hưng: Tôi muốn nhắc lại quan điểm và chủ trương của Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là: Gỡ thẻ vàng là mục tiêu phải đạt, nhưng không phải là đích cuối cùng. Đích cuối cùng là xây dựng một nghề cá bền vững, có trách nhiệm, hướng đến chấm dứt khai thác IUU; một hệ thống quản trị minh bạch, đủ năng lực tự phát hiện, tự kiểm soát, xử lý vi phạm, bảo đảm tính răn đe và chứng minh được tính minh bạch, hợp pháp của sản phẩm thủy sản Việt Nam.
Trong thời gian tới, chúng ta phải hoàn thành đầy đủ các nội dung của Kế hoạch hành động chống khai thác IUU, khắc phục triệt để các khuyến nghị của EC tại đợt thanh tra lần thứ 5, với yêu cầu rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ sản phẩm,... đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1516/QĐ-TTg ngày 10/8/2026. Trọng tâm là năm nhóm giải pháp.
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, quy trình và chế tài xử lý; rà soát những quy định còn chồng chéo hoặc chưa phù hợp thực tiễn, bảo đảm hành vi vi phạm được phát hiện, xác minh và xử lý đúng thẩm quyền, đúng thời hạn, không để tồn đọng hoặc bỏ lọt.
Hai là, quản lý chặt đội tàu theo nguyên tắc “một tàu cá, một mã định danh, một hồ sơ điện tử thống nhất”; hoàn thành rà soát, làm sạch và đối khớp dữ liệu VNFishbase với dữ liệu dân cư, đăng kiểm, cấp phép, VMS và xuất, nhập bến; từng tàu không đủ điều kiện phải được xác định rõ vị trí, chủ tàu, tình trạng và biện pháp quản lý.
Đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường do Thứ trưởng Võ Văn Hưng làm Trưởng đoàn làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về đầu tư công lĩnh vực thủy sản, phát triển vùng nguyên liệu. (Ảnh: MINH ĐẢM)
Đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường do Thứ trưởng Võ Văn Hưng làm Trưởng đoàn làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về đầu tư công lĩnh vực thủy sản, phát triển vùng nguyên liệu. (Ảnh: MINH ĐẢM)
Ba là, vận hành thực chất hệ thống VMS: Kiểm soát 100% tàu thuộc diện bắt buộc khi xuất, nhập bến; cảnh báo, liên lạc, xác minh và xử lý ngay các trường hợp mất kết nối, vượt ranh giới hoặc can thiệp thiết bị; lập danh sách tàu nguy cơ cao để giám sát trọng điểm, đồng thời duy trì phối hợp giữa địa phương, biên phòng, kiểm ngư và cơ quan công an.
Bốn là, kiểm soát toàn bộ chuỗi truy xuất nguồn gốc trên eCDT, từ tàu ra, vào cảng, nhật ký khai thác, sản lượng bốc dỡ đến xác nhận nguyên liệu, chứng nhận sản phẩm; không xác nhận đối với nguyên liệu không có dữ liệu hợp lệ. Các doanh nghiệp xuất khẩu loài có nguy cơ cao cần được kiểm tra theo phương pháp đánh giá rủi ro; mọi sai lệch về nguyên liệu, định mức, sản lượng và hồ sơ phải được làm rõ, xử lý dứt điểm.
Thứ trưởng Võ Văn Hưng và Đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường khảo sát hạ tầng cảng cá tại vịnh Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: KIM SƠ)
Thứ trưởng Võ Văn Hưng và Đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và Môi trường khảo sát hạ tầng cảng cá tại vịnh Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: KIM SƠ)
Năm là, nâng cao trách nhiệm thực thi, nhất là người đứng đầu; tăng cường kiểm tra đột xuất, hậu kiểm, công khai tiến độ và kết quả; đồng thời chuẩn bị bộ hồ sơ, dữ liệu và bằng chứng thống nhất để đối thoại kỹ thuật với EC. Quan điểm của Việt Nam là chủ động, minh bạch, cầu thị nhưng kiên quyết; nội dung nào đã khắc phục phải chứng minh được, vấn đề nào còn tồn tại phải có lộ trình, trách nhiệm và thời hạn cụ thể.
Phóng viên: Xin Thứ trưởng cho biết, bên cạnh việc gỡ “thẻ vàng”, về lâu dài, Việt Nam cần làm gì để duy trì sự minh bạch trong khai thác thủy sản, đồng thời tạo sinh kế bền vững cho người dân, hướng đến phát triển thủy sản bền vững?
Thứ trưởng Võ Văn Hưng: Về lâu dài, chống IUU phải trở thành một bộ phận thường xuyên của quản trị nghề cá hiện đại, chứ không dừng lại khi “thẻ vàng” được gỡ.
Trước hết, cần xây dựng hệ thống dữ liệu số liên thông, minh bạch và có khả năng cảnh báo sớm; mọi tàu cá, chuyến biển, sản lượng và giao dịch nguyên liệu phải có dấu vết điện tử có thể kiểm tra, đối chiếu. Cùng với đó là duy trì cơ chế thanh tra, giám sát độc lập; phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương; tăng trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý, cảng cá, doanh nghiệp và chủ tàu.
Thứ hai, phải quản lý khai thác dựa trên trữ lượng và sức tải của nguồn lợi; cơ cấu lại đội tàu phù hợp khả năng khai thác cho phép, giảm áp lực khai thác ven bờ, phục hồi hệ sinh thái và bảo vệ khu vực sinh sản, bãi giống, bãi đẻ. Công tác chống IUU phải gắn với quy hoạch không gian biển, bảo tồn đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thứ ba, sinh kế bền vững phải được coi là giải pháp gốc. Nhà nước cần hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề và giảm dần số tàu khai thác không hiệu quả; phát triển nuôi biển công nghệ cao, dịch vụ hậu cần, chế biến sâu, du lịch cộng đồng. Chính sách cần ưu tiên những ngư dân tuân thủ tốt pháp luật, đồng thời bảo đảm quá trình chuyển đổi công bằng, không để người dân mất sinh kế.
Thứ tư, cần chuyển từ tăng sản lượng sang nâng giá trị: chuẩn hóa chất lượng, chứng nhận khai thác có trách nhiệm, truy xuất đến từng lô hàng, giảm tổn thất sau thu hoạch và xây dựng thương hiệu thủy sản Việt Nam. Khi sản phẩm hợp pháp, minh bạch được thị trường ghi nhận với giá trị cao hơn, người dân và doanh nghiệp sẽ có động lực mạnh mẽ để tuân thủ quy định của pháp luật.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường trao cờ Tổ quốc và tặng quà các ngư dân tiêu biểu, đồng hành chống khai thác IUU trên địa bàn tỉnh Gia Lai. (Ảnh: THÙY TRANG)
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường trao cờ Tổ quốc và tặng quà các ngư dân tiêu biểu, đồng hành chống khai thác IUU trên địa bàn tỉnh Gia Lai. (Ảnh: THÙY TRANG)
Tôi cho rằng, mục tiêu cuối cùng là hình thành văn hóa khai thác thủy sản có trách nhiệm, trong đó ngư dân là chủ thể; doanh nghiệp là mắt xích bảo đảm thị trường; cơ quan quản lý là nền tảng phục vụ và giám sát; công nghệ là công cụ bảo đảm tính minh bạch, khách quan. Khi nguồn lợi thủy sản được quản lý bền vững, hiệu quả kinh tế đội tàu được nâng cao và thực thi pháp luật được triển khai thực chất, nghiêm túc, ngành thủy sản Việt Nam mới có thể phát triển bền vững, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!
Ngày xuất bản: 19/9/2026
Thực hiện: Hà Quốc Việt - Lê Quân - Khánh Linh


