Những năm qua, chúng ta đã không còn xa lạ với những cụm từ “lũ chồng lũ”, “sạt lở kinh hoàng” hay “siêu bão lịch sử”. Từ những thảm họa đất đá vùi lấp tại Rào Trăng, Trà Leng năm 2020, sức tàn phá khủng khiếp của cơn bão số 3 (Yagi) năm 2024 cho đến lũ lụt nghiêm trọng ở Nam Trung Bộ năm 2025, cho thấy thiên tai khốc liệt đang trở thành “bình thường mới”.
Tại sao khi bão lũ ập đến, câu hỏi đầu tiên chúng ta đặt ra luôn là: “Rừng còn hay mất?”. Bởi lẽ, rừng không chỉ là tài sản kinh tế, mà là “áo giáp xanh” bảo vệ con người trước thịnh nộ của thiên nhiên. Độ che phủ và chất lượng rừng đã trở thành chỉ tiêu an ninh quốc gia, một thước đo bền vững mà bất kỳ một sai số nào cũng có thể phải trả giá bằng sinh mạng và tài sản.
Độ che phủ rừng của Việt Nam đã tăng lên mức cao nhất từ trước đến nay. Nhưng nghịch lý là thiên tai không vì thế mà dịu bớt. Ngược lại, lũ quét, sạt lở đất, ngập sâu vẫn gây thiệt hại ngày càng nặng nề. Câu trả lời không nằm ở diện tích, mà ở sự đứt gãy giữa con số thống kê và năng lực phòng hộ thực chất của rừng.
Để lý giải nghịch lý này, cần nhìn thẳng vào những nguyên nhân mang tính hệ thống: từ áp lực sinh kế, sự quá tải công việc của lực lượng bảo vệ rừng, tác động ngày càng khốc liệt của biến đổi khí hậu, cho tới những “khoảng trống” sinh thái hình thành trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội.
Một góc rừng trồng của Công ty cổ phần Dịch vụ Bưu chính viễn thông Hoa Phát (tỉnh Thái Nguyên), những cây non đang được trồng và phát triển phủ xanh những mảng rừng bị tàn phá.
Màn đêm buông xuống Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (tỉnh Thái Nguyên), ánh đèn xe loang loáng quét qua những thân cây cao vút, con đường mòn hun hút dần nuốt trọn đoàn tuần tra vào bóng tối. Sóng điện thoại mất hẳn từ lúc rời khỏi trục đường chính. Trong chuyến đi thực địa cùng lực lượng kiểm lâm và chính quyền xã Vĩnh Thông, chúng tôi phần nào cảm nhận được công việc thầm lặng, thường xuyên đối mặt với hiểm nguy của lực lượng tuần tra. Buổi tuần tra có mặt phóng viên được bố trí đi ô-tô để bảo đảm an toàn và kịp thời gian tác nghiệp, nhưng đó là một ngoại lệ hiếm hoi.
Ngồi sau tay lái, ông Hoàng Anh Tuấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm số 6 - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên, vừa quan sát hai bên rừng tối vừa nói nhỏ: Mọi biến động trong rừng đều phải nắm từ cơ sở, không chờ đến khi trở thành “điểm nóng” mới xử lý. Với ông Tuấn và anh em kiểm lâm, tuần rừng không chỉ là kế hoạch định kỳ, mà là sự hiện diện liên tục để rừng luôn nằm trong tầm kiểm soát. Có những đêm, quãng đường tuần tra dài hơn 50km có nơi phải cuốc bộ hàng chục cây số giữa rừng không một ánh đèn.
Càng về khuya, áp lực càng lớn. Rừng tối, địa hình hiểm trở, những khoảng trống ven đường trở thành điểm phải quan sát kỹ. Trung tá Hứa Đình Lôi, Phó Trưởng Công an xã Vĩnh Thông, cho xe chạy chậm lại ở một khúc cua, giải thích: Đây là khu vực dễ ẩn nấp, chỉ cần một dấu hiệu bất thường của xe lạ hay tiếng động khả nghi, lực lượng sẽ lập tức kiểm tra. “Chỉ cần để lọt một, hai vụ là rất dễ kéo theo những vi phạm khác”, ông Lôi nói.
Trung tá Hứa Đình Lôi (thứ 2, bên trái), Phó Trưởng Công an xã Vĩnh Thông và ông Hoàng Anh Tuấn (trái), Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm số 6 - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Nhân Dân. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Trung tá Hứa Đình Lôi (thứ 2, bên trái), Phó Trưởng Công an xã Vĩnh Thông và ông Hoàng Anh Tuấn (trái), Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm số 6 - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Nhân Dân. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Theo Trung tá Hứa Đình Lôi, giữ rừng không phải là nhiệm vụ của riêng kiểm lâm, mà là sự phối hợp thường xuyên giữa Công an, Kiểm lâm, Quân sự và Dân quân tự vệ. Địa bàn xã gần như toàn rừng, đất sản xuất ít, nên tuần tra, kiểm soát phải được duy trì đều đặn, nhất là tại các khu vực trọng điểm. Phần lớn các vi phạm thời gian qua vẫn xoay quanh khai thác, bảo vệ rừng; các vụ việc đều được phát hiện trong quá trình tuần tra, sau đó phối hợp xử lý theo đúng quy định pháp luật.
Một thực tế khác là đa số người vi phạm đều là dân địa phương, cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu sinh kế ổn định. Vì vậy, bên cạnh xử lý nghiêm, các lực lượng luôn chú trọng tuyên truyền, vận động để người dân hiểu và tự giác chấp hành pháp luật. Vụ khai thác trái phép 41 cây gỗ nghiến năm 2019 là bài học đắt giá; sau những bản án nghiêm khắc và quá trình tuyên truyền kéo dài, ý thức chấp hành pháp luật của người dân đã có chuyển biến rõ rệt.
Ở tuyến đầu bảo vệ rừng, áp lực đang đè nặng lên lực lượng kiểm lâm. Sau khi kiện toàn theo mô hình mới, Hạt Kiểm lâm số 6 hiện chỉ có 13/15 biên chế; trong đó 8 kiểm lâm địa bàn phải quản lý hơn 40.000ha rừng của ba xã Vĩnh Thông, Côn Minh và Văn Lang. Bình quân, mỗi cán bộ phụ trách hơn 5.000ha rừng - một định mức vượt xa khả năng kiểm soát thông thường.
Tuần rừng là một trong những công việc thường ngày của lực lượng kiểm lâm. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Tuần rừng là một trong những công việc thường ngày của lực lượng kiểm lâm. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Giáp Tết Nguyên đán, những chuyến tuần rừng càng dày hơn. Cuối năm, mùa màng đã xong, nhu cầu chi tiêu tăng cao, áp lực mưu sinh dễ khiến một số đối tượng bất chấp. Có kiểm lâm ba năm liền chưa đón Tết trọn vẹn cùng gia đình, có người trực xuyên Tết giữa rừng. Giữa đêm Kim Hỷ, khi ánh đèn xe quét qua những cánh rừng tự nhiên còn nguyên vẹn, mới thấy rõ vì sao họ vẫn bám rừng: chỉ cần một khoảng trống bị bỏ quên, cái giá phải trả có thể là cả cánh rừng.
Nhưng dù những bước chân tuần tra vẫn lặng lẽ nối dài trong đêm, dù lực lượng kiểm lâm, công an và chính quyền cơ sở vẫn căng mình giữ từng khoảnh rừng, thì đó mới chỉ là một nửa của cuộc chiến. Rừng hôm nay không chỉ đối mặt với sức ép mưu sinh, với những nhát cưa lén lút trong đêm tối, mà còn đang oằn mình trước những tác động khốc liệt hơn, âm thầm hơn đến từ thiên nhiên. Khi biến đổi khí hậu làm đảo lộn quy luật mưa nắng, khi những trận mưa cực đoan vượt quá ngưỡng chịu đựng của hệ sinh thái, thì chỉ sự hiện diện của con người thôi là chưa đủ. Từ đây, câu chuyện giữ rừng không còn dừng lại ở tuần tra, xử lý vi phạm, mà buộc phải nhìn thẳng vào một thách thức lớn hơn: thiên tai đang vượt xa sức chống chịu của chính những cánh rừng.
Toàn bộ ngôi nhà và khu vực chung quanh (Hạt kiểm lâm số 6, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên) bị ngập sâu trong nước lũ do ảnh hưởng của cơn bão số 11 (MATMO) trong năm 2025. Ảnh chụp sau khi cơn bão đã qua được gần 2 tháng. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Toàn bộ ngôi nhà và khu vực chung quanh (Hạt kiểm lâm số 6, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên) bị ngập sâu trong nước lũ do ảnh hưởng của cơn bão số 11 (MATMO) trong năm 2025. Ảnh chụp sau khi cơn bão đã qua được gần 2 tháng. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Biến đổi khí hậu không còn là dự báo, mà đã trở thành thực tại khắc nghiệt. Nắng nóng kéo dài khiến nhiều diện tích rừng trồng chết khô hoặc sinh trưởng kém. Khi gặp mưa lớn đột ngột sau hạn, những cánh rừng này không đủ sức để chống chịu, dễ gãy đổ, làm gia tăng nguy cơ lũ và trôi đất.
Theo các chuyên gia, những trận mưa cực lớn với cường suất cao đang vượt xa khả năng “tự hồi phục” của nhiều hệ sinh thái rừng. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Bảo Huy (Khoa Lâm nghiệp - Trường đại học Tây Nguyên) cho rằng thiên tai hiện nay đã vượt trên mức trung bình của nhiều thập kỷ; song không thể đổ lỗi hoàn toàn cho tự nhiên, bởi hệ thống rừng phòng hộ ở nhiều lưu vực đang bộc lộ quá nhiều vấn đề.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng đưa ra những con số đối lập đầy ám ảnh: Một cánh rừng tự nhiên đa tầng tán với hệ rễ sâu 20-30m có thể hấp thụ đến 90% lượng mưa, chuyển hóa thành mạch ngầm và nhả ra từ từ trong mùa khô. Ngược lại, ở đất trống đồi trọc hoặc rừng trồng đơn loài, có tới 95% lượng nước mưa sẽ chảy tràn trên bề mặt. Khi dòng chảy bề mặt này tích tụ đủ sức mạnh, nó sẽ cuốn phăng tất cả.
Thiên tai hiện nay đã vượt trên mức trung bình của nhiều thập kỷ; song không thể đổ lỗi hoàn toàn cho tự nhiên, bởi hệ thống rừng phòng hộ ở nhiều lưu vực đang bộc lộ quá nhiều vấn đề.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Bảo Huy
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Bảo Huy
Khu vực rừng bị sạt trượt sau cơn bão số 11 (MATMO) trong năm 2025. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Khu vực rừng bị sạt trượt sau cơn bão số 11 (MATMO) trong năm 2025. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Hiện nay, trữ lượng gỗ của rừng tự nhiên Việt Nam ở nhiều nơi đã suy giảm từ 250m³/ha xuống chỉ còn 25m³/ha. Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung, tỷ lệ rừng giàu hiện nay còn rất ít, chủ yếu là rừng nghèo và rừng kiệt. Những loại rừng này có trữ lượng gỗ thấp, hệ sinh thái nghèo nàn và gần như mất đi năng lực giữ nước.
Một cánh rừng “rỗng ruột” như vậy, dù nhìn từ xa vẫn xanh, nhưng bên trong đã mất đi thảm mục, mất đi tầng cây bụi và mất đi khả năng giữ chân nước. Đó là lý do tại sao rừng vẫn còn đó, nhưng lũ quét vẫn cứ xảy ra.
Một nguyên nhân then chốt khiến “áo giáp xanh” chưa phát huy vai trò lá chắn là áp lực gia tăng từ quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Trong một thập kỷ qua, đất rừng đã phải gồng mình “chia sẻ” cho các mục tiêu hạ tầng giao thông, thủy điện, khu công nghiệp và đô thị hóa. Không ít dự án được triển khai ngay tại khu vực miền núi, đầu nguồn - những “tử huyệt” phòng hộ.
Khi một cánh rừng bị chuyển mục đích sử dụng, dù tổng diện tích có thể được bù đắp bằng việc trồng rừng thay thế ở một địa phương khác, nhưng chức năng sinh thái tại chỗ gần như bị xóa sổ. Sự mất mát này không thể bù đắp bằng phép cộng trừ số liệu thuần túy. Một ha rừng trồng mới 3 năm tuổi tại một tỉnh khác không thể gánh vác trách nhiệm giữ nước đầu nguồn thay cho một ha rừng tự nhiên trăm năm tuổi đã bị san lấp để làm thủy điện hay khu nghỉ dưỡng.
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, trong giai đoạn 2006-2013, khoảng 476.000ha đất có rừng đã được chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất phi lâm nghiệp. Trong đó, khoảng 85-90% là rừng tự nhiên. Số liệu này được tổng hợp từ hệ thống theo dõi biến động rừng của Cục Kiểm lâm và trình bày trong các báo cáo chuyên ngành về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp giai đoạn này.
Ông Nguyễn Thái Sơn (áo ngành bên phải), Phó trưởng phòng sử dụng và phát triển rừng, Chi cục kiểm lâm Thái nguyên, trao đổi với phóng viên báo Nhân Dân về công tác trồng rừng tại địa phương. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Ông Nguyễn Thái Sơn (áo ngành bên phải), Phó trưởng phòng sử dụng và phát triển rừng, Chi cục kiểm lâm Thái nguyên, trao đổi với phóng viên báo Nhân Dân về công tác trồng rừng tại địa phương. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Trong giai đoạn cao điểm phát triển thủy điện vừa và nhỏ, diện tích rừng bị chuyển đổi được ghi nhận là rất lớn. Theo các nghiên cứu độc lập của Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID), để tạo ra 1MW thủy điện vừa và nhỏ, trung bình cần chuyển đổi khoảng 10-30ha đất rừng, bao gồm diện tích lòng hồ, hành lang tuyến năng lượng, đường thi công, bãi thải và các hạng mục hạ tầng phụ trợ.
Từ thống kê các dự án đã và đang vận hành, hiện cả nước có hơn 230 công trình thủy điện vừa và nhỏ, với tổng công suất ước khoảng 6.900-7.000MW. Theo cách tính này, diện tích rừng bị chuyển đổi phục vụ phát triển thủy điện vừa và nhỏ ước tính lên tới khoảng 70.000-210.000ha, chủ yếu tập trung tại các khu vực rừng đầu nguồn.
Bên cạnh các dự án phát triển, áp lực chuyển đổi đất rừng sang mục đích sản xuất nông nghiệp ở vùng sâu, vùng xa vẫn diễn ra phức tạp tại nhiều địa phương. Theo tổng hợp báo cáo của lực lượng kiểm lâm, năm 2024, cả nước ghi nhận gần 3.000 vụ việc liên quan đến phá rừng trái phép và cháy rừng, làm thiệt hại trên 1.000ha rừng. Riêng tại khu vực Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ, các báo cáo chuyên đề của ngành kiểm lâm cho thấy số vụ vi phạm lâm luật vẫn ở mức cao, tập trung tại các vùng giáp ranh, địa hình phức tạp, nơi công tác quản lý và kiểm soát gặp nhiều khó khăn.
Từ năm 2016, Chính phủ đã ban hành chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, tiếp đó là Luật Lâm nghiệp 2017, cùng nhiều chỉ đạo yêu cầu rà soát, dừng hoặc điều chỉnh các dự án có chuyển đổi mục đích sử dụng rừng tự nhiên. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, khung pháp lý vẫn chưa đủ để triệt tiêu hoàn toàn áp lực lên rừng, khi khoảng cách giữa quy định trên giấy và năng lực giám sát tại cơ sở, vẫn đang là một thách thức lớn trong công tác bảo vệ rừng tự nhiên.
Ông Ma Văn Giao, kiểm lâm viên Hạt kiểm lâm số 6 (Chi cục kiểm lâm Thái Nguyên) chỉ cho chúng tôi về cánh rừng tự nhiên ông được giao trách nhiệm tuần tra kiểm soát hằng ngày. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Ông Ma Văn Giao, kiểm lâm viên Hạt kiểm lâm số 6 (Chi cục kiểm lâm Thái Nguyên) chỉ cho chúng tôi về cánh rừng tự nhiên ông được giao trách nhiệm tuần tra kiểm soát hằng ngày. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Theo các chuyên gia, phá rừng đầu nguồn nguy hiểm hơn nhiều so với các khu vực khác vì nó kích hoạt lũ quét ngay khi mưa lớn xảy ra. Trong khi đó, lực lượng quản lý mỏng, địa bàn rộng và mức kiếm lời từ phá rừng trái phép quá hấp dẫn khiến khoảng trống giữa chính sách và thực thi vẫn tồn tại.
Một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến “lá chắn xanh” chưa phát huy đầy đủ vai trò phòng hộ nằm ở sự đứt gãy giữa quy hoạch rừng và phát triển kinh tế. Ở không ít địa phương, rừng vẫn bị xem như “quỹ đất dự trữ”, sẵn sàng nhường chỗ cho các mục tiêu trước mắt. Trong khi đó, ở cấp độ cộng đồng, người dân gắn bó trực tiếp với rừng nhưng lại chưa được hưởng lợi xứng đáng từ việc giữ rừng.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung chỉ rõ: Hiện khoảng 2/3 diện tích rừng do người dân quản lý. Tuy nhiên, nếu họ góp phần bảo vệ nguồn nước, chắn gió bão mà không có lợi ích kinh tế rõ ràng, thì rất khó duy trì sự gắn bó lâu dài. Trong những thời điểm sinh kế bấp bênh, không ít người buộc phải tính đến cái lợi trước mắt, khiến việc giữ rừng thiếu bền vững.
Ông Hoàng Anh Tuấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm số 6, Chi cục kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên chia sẻ với phóng viên về những khắc nghiệt của thiên tai tàn phá những cánh rừng tự nhiên. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Ông Hoàng Anh Tuấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm số 6, Chi cục kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên chia sẻ với phóng viên về những khắc nghiệt của thiên tai tàn phá những cánh rừng tự nhiên. (Ảnh: Ngọc Hoan)
Thực tế cho thấy, khi rừng không mang lại lợi ích kinh tế-xã hội ổn định, rất khó kỳ vọng người dân trở thành “người gác rừng” hiệu quả. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã mở ra một hướng tiếp cận đúng, song mức chi trả và phạm vi thụ hưởng hiện vẫn còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn. Khi áp lực mưu sinh còn đè nặng, nguy cơ xâm lấn rừng tự nhiên để lấy đất sản xuất vẫn luôn hiện hữu.
Hệ quả là nhiều cánh rừng tuy vẫn xanh trên bản đồ, nhưng bên trong đã dần “rỗng ruột”. Tại các xã Vĩnh Thông, Côn Minh và Văn Lang (tỉnh Thái Nguyên), nơi tỷ lệ che phủ rừng đều hơn 80%, lực lượng kiểm lâm địa bàn ghi nhận không ít diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm thảm mục, tầng cây bụi bị xâm lấn để trồng xen cây ngắn ngày. Khi mưa lớn kéo dài, đất rừng nhanh chóng bão hòa nước, làm gia tăng nguy cơ sạt lở ngay cả dưới những tán rừng vẫn còn xanh.
Trong những thời điểm sinh kế bấp bênh, không ít người buộc phải tính đến cái lợi trước mắt, khiến việc giữ rừng thiếu bền vững.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng
Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng
Thiên tai ngày càng cực đoan đang đặt “lá chắn xanh” trước những phép thử khắc nghiệt chưa từng có. Nhưng cốt lõi của vấn đề không chỉ nằm ở biến đổi khí hậu, mà ở cách chúng ta phát triển, quản lý và ứng xử với rừng.
Khi rừng bị coi là quỹ đất dự trữ, khi sinh kế của người giữ rừng chưa được bảo đảm, khi lực lượng bảo vệ rừng bị quá tải bởi cả địa bàn lẫn thủ tục, thì độ che phủ dù cao đến đâu cũng khó chuyển hóa thành năng lực phòng hộ thực sự.
Đã đến lúc tư duy về rừng cần được chuyển từ “đếm diện tích” sang “đánh giá chất lượng”, từ mục tiêu che phủ sang mục tiêu phòng hộ, giữ nước và bảo vệ sinh kế bền vững. Chỉ khi nào rừng khỏe từ bên trong, được bảo vệ bằng lợi ích kinh tế-xã hội lâu dài và quản lý hiệu quả, “lá chắn xanh” mới thật sự phát huy vai trò trước những cơn cuồng nộ của thiên nhiên. Đây là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn hiện nay.

Ngày xuất bản: 16/2/2026
Tổ chức thực hiện: Trường Sơn
Nội dung: Thanh Trà-Ngọc Hoan-Quỳnh Trang
Ảnh: Ngọc Hoan
Trình bày: Hòa An