Tăng trưởng 2 con số: Lựa chọn lịch sử để Việt Nam bứt phá đến năm 2045
Không có chung công thức, những kinh nghiệm “hóa rồng” của các nền kinh tế Đông Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) hay Singapore lại có giá trị tham khảo quý khi Việt Nam quyết tâm đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trên hành trình hướng tới năm 2045.
Điều đáng nói, các nền kinh tế nêu trên đều đã “cập bến” mục tiêu tăng trưởng cao và có chung lựa chọn: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, công nghiệp hóa gắn với thị trường thế giới, nguồn lực được tập trung cho những ngành có khả năng tạo sức bật và mô hình tăng trưởng liên tục được nâng cấp khi lợi thế cũ dần mất đi.
ĐI LÊN NHỮNG NẤC THANG GIÁ TRỊ CAO HƠN
Từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá, Nhật Bản đã vươn lên trở thành cường quốc công nghiệp. Hàn Quốc trải qua quá trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, từng bước chuyển sang những ngành có hàm lượng công nghệ và tri thức cao. Đài Loan (Trung Quốc) đi từ sản xuất thâm dụng lao động đến vị trí quan trọng trong chuỗi cung ứng bán dẫn thế giới. Còn Singapore, với hạn chế về tài nguyên và thị trường của một quốc đảo, quốc gia này đã lựa chọn mở cửa trở thành một trung tâm kinh tế, tài chính lớn của khu vực.
Con đường khác nhau, nhưng theo Báo cáo nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế trong Đề án tăng trưởng hai con số, điểm đáng chú ý là các nền kinh tế này đều biết lựa chọn động lực phù hợp từng giai đoạn và chủ động thay đổi khi mô hình cũ không còn tạo ra hiệu quả như trước.
Điển hình như Nhật Bản, trong thời kỳ tăng trưởng cao sau chiến tranh, nước này đẩy mạnh công nghiệp hóa, xuất khẩu, đầu tư hạ tầng, tập trung vào công nghiệp nặng và chế tạo. Sau các cú sốc dầu mỏ những năm 1970, quốc gia này đã chuyển mạnh sang công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng và những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn hơn. Những thập niên sau đó tiếp tục là quá trình chuyển sang kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.
Với Hàn Quốc, lựa chọn công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu một cách có chọn lọc, tập trung nguồn lực cho những ngành có khả năng tạo sức bật, đồng thời đặt doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh của thị trường quốc tế. Khi trình độ phát triển được nâng lên, liền chuyển trọng tâm sang những lĩnh vực có hàm lượng tri thức và công nghệ cao hơn. Các ngành mũi nhọn của Hàn Quốc trong giai đoạn mới bao gồm: Công nghệ thông tin và truyền thông, điện tử thông minh, công nghệ sinh học, công nghệ tài chính và công nghiệp văn hóa sáng tạo. Song song đó là chiến lược chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp.
Quá trình đi từ sản xuất sang làm chủ những mắt xích có giá trị cao của Đài Loan (Trung Quốc) là rõ hơn cả. Từ đầu những năm 1980, nền kinh tế này chuyển mạnh sang công nghiệp công nghệ cao, với việc ra đời của Công viên Khoa học Tân Trúc - nơi tập trung mọi nguồn lực, điều kiện tốt nhất để phát triển điện tử, vi mạch bán dẫn, máy tính và viễn thông.
Singapore lại cho thấy một cách vượt qua giới hạn về quy mô và tài nguyên: mở cửa mạnh mẽ, tận dụng vốn, công nghệ, nhân lực và thị trường quốc tế, đồng thời chú trọng xây dựng môi trường kinh doanh, kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực.
Những con đường khác nhau ấy có một mẫu số chung. Đó chính là đã sử dụng chính sách hỗ trợ có chọn lọc cho doanh nghiệp và ngành công nghiệp trong nước, thông qua tín dụng, nghiên cứu và phát triển, công nghiệp hỗ trợ, giáo dục và khoa học-công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh. Và chung một quan niệm: Thành công không nằm ở việc giữ mãi một lợi thế, mà ở khả năng dùng lợi thế của hôm nay để bước lên nấc thang phát triển cao hơn vào ngày mai.
KINH NGHIỆM ''HÓA RỒNG'' ĐANG ĐƯỢC VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM
Sau 26 năm hình thành và phát triển, Công ty cổ phần Công nghệ Thế hệ mới Hanel PT (Hanel PT) đã trở thành nhà cung cấp cấp một trực tiếp cho nhiều tập đoàn lớn trên thế giới. Nhưng đó chưa phải đích đến của Hanel PT, bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch Hanel PT, tự tin cho biết, công ty đang từng bước tham gia các lĩnh vực khó hơn, hiện đại hơn, như: Sản xuất bảng mạch, mạch điều khiển, thiết bị phục vụ ngành bán dẫn.
Tất nhiên, thành công của một doanh nghiệp chưa thể đại diện cho cả nền công nghiệp. Nhưng theo bà Trang, hướng dịch chuyển từ gia công, sản xuất đơn giản sang tham gia sâu hơn vào chuỗi công nghệ là con đường mà các doanh nghiệp Việt Nam phải đi. Đó là không chỉ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, mà phải từng bước tiến sâu vào những khâu tạo ra giá trị lớn hơn.
Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Hồ Sỹ Hùng
Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Hồ Sỹ Hùng
Chia sẻ quan điểm này, cho rằng trong giai đoạn mới, nếu doanh nghiệp chỉ dựa vào chi phí thấp sẽ rất khó cạnh tranh, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Hồ Sỹ Hùng nhấn mạnh: Cơ hội thuộc về những doanh nghiệp biết dựa vào năng suất, công nghệ, chất lượng, thương hiệu và năng lực quản trị. Đây chính là điểm gặp nhau giữa kinh nghiệm của những nền kinh tế Đông Á đi trước và yêu cầu phát triển đang đặt ra đối với Việt Nam. Công nghiệp hóa và hội nhập có thể đưa một nền kinh tế vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng chưa bảo đảm nền kinh tế ấy sẽ tiến lên những vị trí có giá trị cao hơn.
Và muốn làm được điều đó, theo ông Hồ Sỹ Hùng, chúng ta phải hình thành năng lực nội sinh: Doanh nghiệp đủ mạnh, nhân lực đủ trình độ, năng lực nghiên cứu và phát triển đủ sức tiếp nhận rồi tiến tới làm chủ công nghệ.
Tất nhiên, Việt Nam không đi lại nguyên si con đường của bất kỳ nền kinh tế nào từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay Singapore. Chúng ta chỉ học cách tạo ra khả năng liên tục nâng cấp chính mình: Từ lợi thế lao động sang năng suất, từ gia công sang công nghệ, từ tham gia chuỗi giá trị sang từng bước nắm giữ những khâu tạo ra giá trị lớn hơn.
Việt Nam không đi lại nguyên si con đường của bất kỳ nền kinh tế nào từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay Singapore. Chúng ta chỉ học cách tạo ra khả năng liên tục nâng cấp chính mình: Từ lợi thế lao động sang năng suất, từ gia công sang công nghệ, từ tham gia chuỗi giá trị sang từng bước nắm giữ những khâu tạo ra giá trị lớn hơn.
KHI ĐỘNG LỰC CŨ KHÔNG CÒN ĐỦ SỨC KÉO TĂNG TRƯỞNG
Và cũng theo ông Hồ Sỹ Hùng, cần xác định ngay một thực tế, ngay cả những mô hình từng tạo nên giai đoạn tăng trưởng thần tốc cũng sẽ phải thay đổi khi điều kiện phát triển đổi khác. Trường hợp Trung Quốc trong những năm gần đây cho thấy rõ hơn yêu cầu đó: khi những động lực từng đưa nền kinh tế tăng trưởng nhanh dần tới giới hạn, việc tìm kiếm một động lực mới trở thành yêu cầu không thể trì hoãn.Trung Quốc là một trường hợp đáng chú ý về khả năng điều chỉnh mô hình tăng trưởng khi những động lực từng tạo nên tốc độ phát triển cao bắt đầu bộc lộ giới hạn.
Trong nhiều thập niên qua, tăng trưởng của Trung Quốc dựa trên sự kết hợp giữa đầu tư quy mô lớn, lực lượng lao động dồi dào, công nghiệp chế tạo và xuất khẩu. Việc tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu giúp nước này trở thành một trong những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, khi chi phí lao động tăng, dân số già hóa, hiệu quả đầu tư giảm và môi trường kinh tế quốc tế thay đổi, dư địa của mô hình dựa nhiều vào vốn, lao động và xuất khẩu cũng dần thu hẹp.
Trước thay đổi đó, Trung Quốc từng bước điều chỉnh mô hình phát triển, hướng tới cân bằng tốt hơn giữa thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ. Một trong những định hướng đáng chú ý là chiến lược “tuần hoàn kép”, trong đó tuần hoàn trong nước giữ vai trò chủ đạo, còn tuần hoàn trong nước và quốc tế thúc đẩy lẫn nhau.
Cách tiếp cận này không đồng nghĩa với thu hẹp hội nhập. Thị trường nội địa với quy mô lớn được coi là nền tảng để thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng, đổi mới công nghệ và củng cố chuỗi cung ứng; trong khi thị trường quốc tế tiếp tục được khai thác thông qua thương mại, đầu tư, công nghệ và sự tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đằng sau sự điều chỉnh ấy của Trung Quốc là một thay đổi sâu hơn về động lực tăng trưởng, với khoa học-công nghệ và năng suất được đặt ở vị trí trung tâm, giữ vai trò chủ đạo - “lực lượng sản xuất chất lượng mới”, mô hình kinh doanh mới tạo năng suất cao hơn.
Điểm đáng chú ý trong sự chuyển hướng này không nằm ở một thuật ngữ mới, mà ở câu hỏi quen thuộc với mọi nền kinh tế đang phát triển: khi vốn và lao động không thể tiếp tục tăng nhanh như trước, tăng trưởng sẽ đến từ đâu?
Kinh nghiệm của những nền kinh tế Đông Á cho thấy câu trả lời nằm ngay ở năng suất, công nghệ và khả năng tạo ra giá trị mới. Ở đây có một bài học đáng chú ý: một mô hình từng thành công không có nghĩa sẽ tiếp tục phù hợp khi điều kiện phát triển thay đổi. Năng lực nhận ra giới hạn của những động lực cũ và tạo ra động lực mới có ý nghĩa không kém khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng.
Với Việt Nam, câu chuyện này càng đáng suy nghĩ khi nền kinh tế đã hội nhập sâu và có độ mở lớn. Theo giới nghiên cứu, mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam cần phát triển đồng thời thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu theo hướng bổ trợ lẫn nhau. Thị trường trong nước là nền tảng ổn định, lâu dài, trong khi xuất khẩu tiếp tục giúp mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả và tạo sức ép để doanh nghiệp đổi mới công nghệ.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang được sắp xếp lại, đây cũng là cơ hội để Việt Nam thu hút thêm đầu tư, công nghệ và những khâu sản xuất có giá trị cao. Nhưng dòng vốn và sự dịch chuyển chuỗi cung ứng chỉ tạo ra giá trị lâu dài khi doanh nghiệp trong nước có đủ khả năng tham gia, tiếp nhận công nghệ và từng bước nâng vị trí trong chuỗi. Bởi vậy, bài học từ Trung Quốc cũng như các nền kinh tế Đông Á không nằm ở việc chạy theo một mô hình có sẵn. Điều đáng quan tâm hơn là khả năng chủ động thay đổi trước khi những lợi thế cũ cạn dần.
Với Việt Nam, yêu cầu ấy đang trở nên cấp thiết khi mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi những động lực đủ mạnh để tạo bước bứt phá, nhưng đồng thời phải đủ bền vững để duy trì trong nhiều năm.
KHÔNG SAO CHÉP NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Thực tế cho thấy, không có con đường duy nhất để đi tới thịnh vượng. Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Singapore hay Trung Quốc lựa chọn những cách đi khác nhau, nhưng đều có một điểm chung: Tăng trưởng cao chỉ được duy trì khi nền kinh tế liên tục tạo ra năng lực mới.
Với Việt Nam, bài học vì thế không phải là lựa chọn một mô hình để sao chép, mà là xác định đúng điều kiện cần thiết cho bước phát triển của chính mình.
Sau nhiều năm hội nhập, Việt Nam đã trở thành một mắt xích quan trọng trong nhiều chuỗi sản xuất toàn cầu, thu hút được lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài và xây dựng năng lực xuất khẩu đáng kể. Tuy nhiên, mục tiêu của chặng đường tới không thể chỉ là có thêm nhà máy hay tăng thêm kim ngạch xuất khẩu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, nâng tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước và từng bước làm chủ công nghệ.
Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Với nhận định cộng đồng doanh nghiệp đang đứng trước những chuyển dịch lớn, ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho rằng: từ tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên sang tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ đổi mới sáng tạo và tham gia các hệ sinh thái, chuỗi giá trị.
Theo ông Nam, sự chuyển dịch ấy cũng đặt ra yêu cầu khác đối với thu hút đầu tư nước ngoài. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, vốn và công nghệ từ bên ngoài có thể giúp rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, nhưng năng lực nội sinh mới quyết định một nền kinh tế có thể tiến lên những nấc thang cao hơn hay không. Vì vậy, thu hút các dự án công nghệ cao cần đi cùng việc tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nhân lực và năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
Cơ hội đang mở ra khi chuỗi cung ứng thế giới tiếp tục được sắp xếp lại và những công nghệ mới làm thay đổi phương thức sản xuất. Nhưng cơ hội dịch chuyển chuỗi cung ứng không tự động trở thành năng lực của nền kinh tế. Nếu doanh nghiệp trong nước chỉ tham gia ở những công đoạn có giá trị gia tăng thấp, công nghệ chủ yếu đến từ bên ngoài và mối liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp nội địa còn hạn chế, Việt Nam có thể tăng nhanh quy mô sản xuất nhưng khoảng cách về công nghệ và năng suất vẫn khó được thu hẹp.
Bài học về làm chủ công nghệ đặc biệt đáng chú ý. Với Việt Nam, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không thể đứng tách khỏi chính sách phát triển doanh nghiệp và công nghiệp. Công nghệ chỉ thật sự trở thành động lực tăng trưởng khi được đưa vào sản xuất, giúp doanh nghiệp nâng năng suất và tạo ra sản phẩm có giá trị lớn hơn.
Tiến sĩ Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Bộ Tài chính)
Tiến sĩ Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Bộ Tài chính)
Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Bộ Tài chính), cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo môi trường chính sách cho doanh nghiệp. Điều doanh nghiệp cần không chỉ là ưu đãi, mà là một môi trường ổn định, minh bạch, thông thoáng, chi phí tuân thủ thấp và hành lang pháp lý khuyến khích nghiên cứu, phát triển khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đây cũng là điểm gặp nhau khá rõ giữa kinh nghiệm quốc tế và yêu cầu phát triển của Việt Nam. Nhà nước kiến tạo không có nghĩa là làm thay thị trường hay lựa chọn doanh nghiệp thắng cuộc. Vai trò quan trọng hơn là xác lập những ưu tiên dài hạn, xây dựng hạ tầng, phát triển nhân lực, tạo môi trường cạnh tranh và tháo những rào cản khiến nguồn lực không thể đi tới nơi sử dụng hiệu quả nhất.
Nhìn lại những cuộc “hóa rồng” ở Đông Á, điều đáng học nhất có lẽ không phải là tốc độ tăng trưởng của một thời kỳ, mà là cách các nền kinh tế ấy chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo ngay khi đang thành công. Họ tận dụng lợi thế hiện tại nhưng đồng thời xây dựng năng lực mới về công nghệ, con người và doanh nghiệp.
Việt Nam hôm nay cũng đang đứng trước một thời điểm như vậy. Những lợi thế về vị trí địa kinh tế, hội nhập quốc tế, quy mô thị trường và sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng mở ra cơ hội lớn. Kỷ nguyên số còn tạo khả năng rút ngắn một số nấc thang phát triển mà những quốc gia đi trước phải mất nhiều thập niên mới vượt qua.
Nhưng cơ hội chỉ thật sự trở thành “bước nhảy vọt” khi được chuyển hóa thành năng lực nội sinh của nền kinh tế.
Một thể chế đủ sức khuyến khích đổi mới, một cộng đồng doanh nghiệp đủ khả năng vươn lên các khâu có giá trị cao, nguồn nhân lực làm chủ công nghệ và sự kết nối hiệu quả giữa thị trường trong nước với thị trường thế giới mới là nền tảng vững chắc để Việt Nam không chỉ tăng trưởng cao và liên tục trong năm nay và nhiều năm tiếp theo, mà còn rút ngắn khoảng cách phát triển, tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Ngày xuất bản: 9/2026
Thực hiện: Hồng Vân - Minh Phương - Quỳnh Trang - Bảo Minh - Khánh Giang
Bài 1: Khát vọng "2 con số" và lựa chọn lịch sử của Việt Nam
Bài 2: Những "cực tăng trưởng" bứt phá - Bài học từ thực tiễn Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh