TS Phạm Ngọc Thưởng,
Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo
Không để xảy ra tình trạng mạnh ai nấy làm

“Việc giải quyết thừa-thiếu giáo viên cần đồng bộ từ trung ương đến địa phương và giữa các ngành liên quan. Nguyên tắc ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên nhưng cần điều tiết, cơ cấu hợp lý”. Đó là những chia sẻ của TS Phạm Ngọc Thưởng, Thứ trưởng Giáo dục và Đào tạo chung quanh vấn đề khắc phục tình trạng thừa-thiếu giáo viên với Nhân Dân hằng tháng.
Thưa Thứ trưởng, thừa-thiếu giáo viên không phải là vấn đề mới. Cách đây 10 năm, Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 cũng đã chỉ ra đây là một trong những hạn chế của đổi mới giáo dục. Vì sao tình trạng này kéo dài?
Đúng như câu hỏi đặt ra, thực trạng thừa-thiếu giáo viên tồn tại từ rất lâu. Tuy nhiên, nhận diện nguyên nhân và đưa ra những giải pháp khắc phục một cách căn cơ nhất chưa được đề cập đến. Hiện nay, cả nước thừa khoảng hơn 10 nghìn giáo viên, tập trung vào nhóm giáo viên tiểu học và THCS. Ở đây cần thấy rằng giáo viên mầm non, tiểu học, THCS là thuộc cấp quận, huyện quản lý. Vì vậy, ở các tỉnh, thành phố chưa có sự chỉ đạo thống nhất, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo không chủ động tham mưu cho UBND tỉnh điều phối một cách chung thì mạnh huyện nào, huyện ấy tuyển, dẫn đến không cân đối giữa các huyện, quận trong cùng một tỉnh, thành phố, gây nên tình trạng thừa - thiếu cục bộ.
Mặt khác, từ năm 2015, biên chế hầu như không được giao bổ sung, trong khi các địa phương vẫn phải thực hiện tinh giản 10%. Việc tinh giản ở một số nơi thực hiện cào bằng, chưa tính đến yếu tố chuyên môn, vị trí việc làm, nhu cầu thực trong mỗi trường, mỗi môn học. Ngoài ra, thực hiện quy định hai giáo viên nghỉ hưu thì được tuyển dụng một cũng ảnh hưởng số lượng và cơ cấu giáo viên theo môn học. Bên cạnh đó, những nguyên nhân như tăng quy mô dân số, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, quy định của luật mới, phát triển các cụm điểm công nghiệp dẫn tới tình trạng có trường, có lớp nhưng mà thiếu giáo viên. Hiện nay theo con số thống kê của ngành giáo dục thiếu khoảng 94 nghìn giáo viên.
Vậy để khắc phục tình trạng chưa có sự chỉ đạo thống nhất, cần có giải pháp gì để có sự phối hợp tốt nhất, tránh trường hợp “quyền anh-quyền tôi”?
Giải pháp căn cơ nhất là không để mạnh ai, nấy làm mà phải có sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chuyên môn tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố. Thực tế ngành giáo dục ở các địa phương mới nắm được thực trạng từng lớp học; nắm được diễn biến, phân công công việc ra sao để đề nghị bổ sung giáo viên. Trong khi đó, ngành nội vụ căn cứ vào định mức biên chế đã được quy định để thực hiện cũng không sai. Vì vậy, đầu mối quan trọng nhất là UBND các tỉnh, thành phố, sau đó giao cơ quan tham mưu, có thể là giáo dục hoặc nội vụ đều được nhưng trách nhiệm phải rõ vai. Đối với triển khai xuống các quận, huyện cũng cần có chỉ đạo chung từ tỉnh, theo hình thức Sở Giáo dục và Đào tạo căn cứ tiêu chuẩn, định mức để đề xuất, sau đó Sở Nội vụ thẩm định, giao biên chế và có thể điều tiết giáo viên giữa trường nọ với trường kia, huyện nọ, huyện kia cho phù hợp. Việc điều tiết cũng phải trên cơ sở tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên; những huyện ở gần nhau, phù hợp nhau về điều kiện địa lý thì có thể điều tiết, hạn chế giáo viên phải đi lại...

Ảnh: Trần Hải
Ảnh: Trần Hải
Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Nội vụ cần làm gì để giúp các tỉnh, thành phố có thể thực hiện tốt việc điều tiết này?
Việc đầu tiên các địa phương cần thực hiện là xây dựng và tổ chức triển khai đề án dồn dịch, sắp xếp lại hệ thống trường, lớp học theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW về đổi mới sắp xếp bộ máy tinh gọn, hiệu quả; Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới nâng cao chất lượng hiệu quả đơn vị sự nghiệp công lập. Thứ hai, các địa phương cần có kế hoạch chỉ đạo, quy hoạch, rà soát, nắm bắt và điều phối đội ngũ giáo viên giữa các huyện với nhau. Trên cơ sở địa phương đã dồn dịch, sắp xếp các trường hợp lý nhất để tận dụng, sử dụng biên chế thì Bộ Nội vụ mới thống nhất với Bộ Giáo dục và Đào tạo giao biên chế.
Trong Hội nghị tổng kết năm học 2020-2021 và triển khai nhiệm vụ năm học 2021-2022, Thủ tướng Chính phủ có yêu cầu, nguyên tắc ở đâu có học sinh ở đó có giáo viên; cần nghiên cứu kỹ để cơ cấu lại hệ thống trường lớp; cơ cấu lại đội ngũ giáo viên sao cho phù hợp, tiết kiệm tối đa nguồn lực, hiệu quả. Với trách nhiệm quản lý Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cung cấp dữ liệu, đưa ra giải pháp để các địa phương rà soát thực trạng, sắp xếp trường, lớp, cơ cấu đội ngũ thực hiện được chức năng, nhiệm vụ đủ số giờ, số tiết, bảo đảm chất lượng dạy học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định định mức học sinh/lớp và định mức giáo viên/lớp làm căn cứ để địa phương, cơ sở giáo dục xác định số lượng giáo viên. Tuy nhiên, quy mô vùng, miền là khác nhau (miền núi có thể 15 học sinh/lớp, thành phố có thể 60 học sinh/lớp). Như vậy, việc xác định định mức giáo viên liệu đã thật sự phù hợp để hạn chế tình trạng thừa-thiếu?
Hiện nay, định mức tối đa học sinh với giáo dục mầm non 5 tuổi là 35 trẻ/lớp, tiểu học 35 em/lớp; trung học 45 em/lớp. Đối với giáo viên định mức trung bình của giáo dục mầm non là 1,71 giáo viên/lớp; tiểu học là 1,37/lớp; THCS là 1,85/lớp; THPT là 2,13/lớp. Tuy nhiên, định mức như vậy đang “cào bằng” giữa các vùng, miền khác nhau. Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang nghiên cứu để sửa đổi các quy định về định mức giáo viên, định mức giờ dạy một cách căn cơ, phù hợp thực tiễn. Thí dụ, khi ứng dụng công nghệ thông tin thì một giờ lao động của giáo viên nặng hơn hay nhẹ hơn so với trước đây? Hay tỷ lệ giáo viên/lớp sẽ là bao nhiêu, giữa miền núi, đồng bằng và thành phố? Có những địa phương, vùng, miền sẽ tính định mức giáo viên/lớp nhưng có nơi phải tính theo học sinh/lớp. Định mức giáo viên sẽ không thể “mặc chung một áo” như trước đây.
Việc chỉnh sửa quy định về định mức giáo viên/lớp có ảnh hưởng rất lớn đến việc điều chỉnh định mức biên chế được giao và việc phân bổ tài chính của các địa phương. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai rà soát, nghiên cứu kỹ lưỡng để có căn cứ điều chỉnh định mức giáo viên/lớp phù hợp chương trình giáo dục phổ thông mới; đồng thời phối hợp ngành nội vụ nghiên cứu, chỉnh sửa cho phù hợp vị trí việc làm, điều kiện thực tế vùng, miền, tránh tính trạng thừa - thiếu.
Ngành giáo dục đang triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới có một số môn học mới, dạy học tích hợp cho nên nhiều địa phương tuyển dụng giáo viên nhưng không có nguồn. Vậy giải pháp nào để giải quyết tình trạng này, đáp ứng yêu cầu đổi mới?
Chuẩn bị đội ngũ cho chương trình giáo dục phổ thông mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định 116/2020/NĐ-CP với nhiều quy định mới. Trong đó, các địa phương trên cơ sở tính toán nhu cầu có thể đặt hàng đào tạo giáo viên theo lộ trình để thực hiện theo chương trình giáo dục phổ thông mới. Bộ cũng đã làm việc với các trường sư phạm về việc mở ngành đào tạo giáo viên phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông mới. Trước đây là đào tạo ngành đơn môn thì hiện nay các trường có thể mở ngành đào tạo đa môn như toán-tin, toán-lý, văn-sử... để giáo viên có thể dạy học tích hợp.
Đối với đội ngũ hiện có nhưng thừa so với nhu cầu, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địa phương rà soát, những giáo viên còn đủ độ tuổi, có nguyện vọng, có khả năng, năng khiếu phù hợp thì cho đi đào tạo văn bằng 2. Thí dụ giáo viên Sử hoặc Địa đang thừa theo định mức nhưng có năng khiếu, năng lực phù hợp có thể đi học thêm tiếng Anh hoặc Tin học để dạy học những môn đang thiếu giáo viên...
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có một bức tranh tổng thể về thừa - thiếu giáo viên và các giải pháp đưa ra để các địa phương thực hiện. Việc giải quyết thừa -thiếu giáo viên cần đồng bộ từ T.Ư đến địa phương và giữa các ngành liên quan. Thực hiện nguyên tắc “ở đâu có học sinh phải có giáo viên” nhưng trên cơ sở điều tiết, cơ cấu hợp lý, hiệu quả, phù hợp thực tiễn.
Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!

Tổ chức thực hiện :
Ban Nhân Dân hằng tháng
Nội dung :
Mạnh Xuân - Thúy Quỳnh - Giang Sơn -
Thanh Sơn - Xuân Kỳ - Tùng Duy
Trình bày mỹ thuật :
Duy Thanh
Ảnh :
Trần Hải, Thúy Quỳnh, Trần Hoàn, TH, TS, Xuân Kỳ
