Trong tháng 4, Báo Nhân Dân đã tổ chức tọa đàm với chủ đề “Xác lập thể chế đặc thù, vượt trội để phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới” để bàn luận chung quanh việc xây dựng và triển khai Luật Thủ đô (sửa đổi). Chương trình có sự tham gia của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An , Chủ tịch Hội Nữ trí thức Thành phố Hà Nội, Đại biểu Quốc hội khóa XIII; ông Nguyễn Quốc Hoàn – Vụ trưởng Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp; ông Lê Trung Hiếu – Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội.
Quang cảnh tọa đàm.
Quang cảnh tọa đàm.
Luật Thủ đô được ban hành lần đầu năm 2012 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho Hà Nội trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ triển khai, trước những yêu cầu mới của thực tiễn – từ tốc độ đô thị hóa, áp lực hạ tầng, đến mục tiêu xây dựng Thủ đô trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và kết nối toàn cầu – nhiều quy định đã bộc lộ những hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển.
Chính vì vậy, việc sửa đổi Luật Thủ đô lần này không chỉ nhằm khắc phục những bất cập, mà còn hướng tới thiết lập một khung thể chế mới, vượt trội hơn, trao cho Hà Nội nhiều quyền chủ động hơn trong quản trị, phát triển và huy động nguồn lực.
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) không chỉ là một bước điều chỉnh pháp lý, mà còn mở ra một tư duy mới từ quản lý sáng kiến tạo phát triển; từ thực thi sang chủ động thiết kế chính sách; từ khuôn khổ chung sang cơ chế đặc thù, vượt trội.
THỂ CHẾ LÀ NỀN TẢNG CHO ĐỘT PHÁ
Nhà báo Trần Hữu Việt: Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) được trình Quốc hội với nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để Hà Nội phát triển tương xứng với vị thế và tầm nhìn trở thành thành phố toàn cầu vào năm 2065. Thưa ông Nguyễn Quốc Hoàn, vậy đâu là mục tiêu cốt lõi của lần sửa đổi này và vì sao yêu cầu hoàn thiện thể chế cho Thủ đô lại trở nên cấp thiết trong giai đoạn hiện nay?
Việc sửa đổi Luật Thủ đô lần này hướng tới mục tiêu đến năm 2065 xây dựng Hà Nội trở thành thành phố toàn cầu, đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa và khoa học. Điểm mới quan trọng của dự thảo luật là sự thay đổi trong cách tiếp cận: thay vì chỉ thiết kế cơ chế để Thủ đô thực thi các quy định chung như trước đây, luật sửa đổi trao cho Hà Nội nhiều quyền chủ động hơn.
Điểm mới quan trọng của dự thảo luật là sự thay đổi trong cách tiếp cận: thay vì chỉ thiết kế cơ chế để Thủ đô thực thi các quy định chung như trước đây, luật sửa đổi trao cho Hà Nội nhiều quyền chủ động hơn.
Nổi bật là việc chuyển từ mô hình chính quyền chủ yếu thực thi chính sách sang chính quyền chủ động kiến tạo chính sách và tổ chức thực hiện trong phạm vi quản lý của mình.
Một nội dung quan trọng khác được nhấn mạnh là tính cấp thiết của việc sửa đổi Luật Thủ đô trong bối cảnh hiện nay. Theo đó, yêu cầu hoàn thiện thể chế cho Thủ đô xuất phát từ sự hội tụ của ba yếu tố: chính trị, pháp lý và thực tiễn.
Về chính trị và tầm nhìn: Việc sửa đổi luật nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới”, với định hướng xây dựng một thể chế đột phá, tạo không gian pháp lý đủ rộng để Hà Nội thực hiện các mục tiêu phát triển. Trước đó, tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, xây dựng khuôn khổ pháp lý vượt trội, đủ mạnh để phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế đặc thù của Thủ đô.
Về pháp lý: Dù Luật Thủ đô năm 2024 đã có nhiều cơ chế đặc thù, song theo thời gian, một số cơ chế vượt trội đã được mở rộng và áp dụng chung trong các luật khác, khiến tính đặc thù của Luật Thủ đô dần bị thu hẹp, không còn rõ nét như ban đầu.
Về thực tiễn: Hà Nội đang đối mặt với nhiều “điểm nghẽn” như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, quá tải hạ tầng kỹ thuật… Những vấn đề này đòi hỏi phải có một khuôn khổ pháp lý đủ mạnh và linh hoạt để tháo gỡ, tạo động lực thúc đẩy phát triển, hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới.
Nhà báo Trần Hữu Việt: Xin được hỏi ông Lê Trung Hiếu, ở góc độ thực thi chính sách tài chính, ông thấy sự chuyển đổi này sẽ tác động thế nào đến cách vận hành chính sách hiện nay? Một trong những điểm mới của dự thảo Luật Thủ đô là chuyển từ “thực thi chính sách” sang “thiết kế chính sách”. Vậy cách làm này thì Sở Tài chính tham gia xây dựng và vận hành chính sách tài chính của Hà Nội như thế nào?
Thủ đô trao cho Hà Nội các quyền mới mà trước đây chưa được quy định, như việc có thể sử dụng tài sản công để góp vốn, để liên danh, liên kết hay là các cơ chế rất mới, linh hoạt thực hiện các dự án theo hình thức đối tác công tư PPP, cho phép Hà Nội ban hành các đơn giá định mức mới để theo kịp sự biến động của kinh tế, đặc biệt trong khu vực Thủ đô và các vùng lân cận.
Thay vì tập trung vào sản xuất thuần túy, thành phố sẽ đẩy mạnh xúc tiến đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư chiến lược trong các lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ số, sản xuất chip, lưu trữ dữ liệu, đặc biệt ở Khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội).
Dưới sự chỉ đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Tài chính đã tham gia ngay từ đầu vào quá trình xây dựng Dự thảo Luật Thủ đô cùng Bộ Tư pháp, thể hiện sự chủ động của cơ quan thực thi trong việc tham gia kiến tạo chính sách. Đồng thời, Sở cũng đang phối hợp xây dựng các nghị quyết chi tiết nhằm bảo đảm triển khai hiệu quả Luật Thủ đô khi được ban hành.
Nhà báo Trần Hữu Việt: Theo bà Bùi Thị An, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Luật Thủ đô (sửa đổi), theo bà, đâu là những điểm đột phá về cơ chế, chính sách có thể tạo ra sự khác biệt rõ rệt trong quản lý và phát triển Thủ đô so với trước đây?
Lần sửa đổi Luật Thủ đô này chính là gỡ thể chế, từ việc thiết kế theo kiểu khung chung, bây giờ chuyển sang yêu cầu thiết kế một cách cụ thể, cao hơn, trao quyền thực chất hơn và có những công cụ đặc thù.
Các cơ chế đặc thù của Hà Nội thời gian qua chủ yếu tập trung ở lĩnh vực tài chính và quy hoạch. Tuy nhiên, dù đã có những quy định riêng, trong quá trình triển khai vẫn phát sinh chồng chéo với các luật khác, dẫn đến việc nhiều nội dung dù đã được trao quyền nhưng vẫn phải xin ý kiến Trung ương, khiến thủ tục kéo dài và thiếu tính chủ động.
Lần sửa đổi này tập trung vào việc “gỡ” các điểm nghẽn về thể chế, theo hướng quy định cụ thể hơn, trao quyền thực chất hơn cho Hà Nội, đồng thời vẫn bảo đảm cơ chế kiểm soát chặt chẽ và có công cụ thực thi rõ ràng.
Chính vì vậy, lần sửa đổi này tập trung vào việc “gỡ” các điểm nghẽn về thể chế, theo hướng quy định cụ thể hơn, trao quyền thực chất hơn cho Hà Nội, đồng thời vẫn bảo đảm cơ chế kiểm soát chặt chẽ và có công cụ thực thi rõ ràng.
Nhà báo Trần Hữu Việt: Theo bà Bùi Thị An, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Luật Thủ đô (sửa đổi), theo bà, đâu là những điểm đột phá về cơ chế, chính sách có thể tạo ra sự khác biệt rõ rệt trong quản lý và phát triển Thủ đô so với trước đây?
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) năm 2026 đã thiết lập một trạng thái cân bằng động giữa việc “mở” tối đa không gian tự chủ và “khóa” chặt chẽ trách nhiệm giải trình để bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả. Nội dung “mở” được thể hiện qua việc chuyển đổi tư duy từ “thực thi chính sách” sang “thiết kế chính sách”, tạo điều kiện cho Thủ đô chủ động bứt phá.
Ở chiều ngược lại, để không xảy ra tình trạng lạm quyền khi được giao quyền năng lớn, dự thảo Luật thiết lập hệ thống “khóa” đa tầng gồm: “Khóa” bằng các nguyên tắc giới hạn và chính quyền Thành phố không được phân cấp, ủy quyền tiếp đối với các thẩm quyền quan trọng đã được giao trực tiếp. Điều này nhằm bảo đảm tính tập trung, thống nhất và nâng cao trách nhiệm giải trình của cấp cao nhất tại Thành phố.
Trách nhiệm giải trình và giám sát là bước “khóa” chặt sau cùng khi quy định Thành phố có nghĩa vụ công khai, minh bạch và thực hiện giải trình về các mục tiêu, phạm vi tác động cũng như đánh giá rủi ro, hệ quả kinh tế-xã hội khi áp dụng các cơ chế đặc thù.
Nhà báo Trần Hữu Việt:Thưa ông Lê Trung Hiếu, luật nhấn mạnh nguyên tắc “phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực”. Trong lĩnh vực tài chính-ngân sách, cơ chế kiểm soát này cần được thiết kế ra sao để không làm giảm tính linh hoạt?
Trong lĩnh vực tài chính-ngân sách, Sở Tài chính tham mưu thành phố xây dựng các nghị quyết liên quan kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm. Điều này bảo đảm mọi hoạt động chi tiêu đầu tư công không vượt quá hạn mức đã được phê duyệt trong kế hoạch trung hạn.
Đối với các hình thức đầu tư ngoài ngân sách, thành phố đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc xây dựng các cổng thông tin và phần mềm quản lý thống nhất, phục vụ theo dõi toàn bộ quá trình đầu tư, xây dựng, vận hành, thực hiện nghĩa vụ thuế cũng như tuân thủ pháp luật của các nhà đầu tư, bao gồm cả mô hình đối tác công-tư (PPP) và đầu tư tư nhân.
Người dân cũng được tạo điều kiện tham gia giám sát các hoạt động đầu tư trên địa bàn thông qua các nền tảng số của thành phố.
Đáng chú ý, người dân cũng được tạo điều kiện tham gia giám sát các hoạt động đầu tư trên địa bàn thông qua các nền tảng số của thành phố. Thông qua các cổng thông tin đầu tư hoặc ứng dụng như iHanoi, người dân có thể phản ánh kịp thời những vấn đề còn thiếu minh bạch hoặc chưa đúng quy định. Các phản ánh này sẽ được cơ quan đầu mối tiếp nhận, tổng hợp và chuyển đến các đơn vị chức năng, trong đó có Sở Tài chính, để xử lý kịp thời.
Nhà báo Trần Hữu Việt: Khi phân quyền sâu rộng chưa từng có tiền lệ, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An đâu là yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm việc trao quyền này thực sự mang lại hiệu quả, thay vì chỉ mở rộng quyền hạn?
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) cần thiết kế một cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể, chặt chẽ và thực chất, nhằm bảo đảm việc trao quyền đi đôi với trách nhiệm và hiệu quả thực thi. Cùng với đó, yêu cầu minh bạch phải được đặt lên hàng đầu, xuyên suốt toàn bộ quá trình phân cấp, phân quyền.
Mục tiêu xuyên suốt của việc sửa đổi Luật Thủ đô là hướng tới nâng cao chất lượng sống của người dân. Theo đó, Hà Nội cần trở thành một đô thị đáng sống, hấp dẫn, có môi trường trong lành, hạ tầng giao thông thông suốt, cơ hội việc làm ổn định và điều kiện phát triển toàn diện cho các thế hệ tương lai.
Nhà báo Trần Hữu Việt: Một câu hỏi được đặt ra không chỉ trong giới chuyên gia mà cả trong dư luận: cơ chế đặc thù liệu có trở thành “đặc quyền”? Trong quá trình xây dựng Luật, Ban soạn thảo đã tiếp cận vấn đề này như thế nào để vừa bảo đảm tính đặc thù, linh hoạt, dẫn dắt vừa giữ vững kỷ cương pháp lý trong quá trình xây dựng pháp luật, xin mời chia sẻ của ông Nguyễn Quốc Hoàn?
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) đặt ra nguyên tắc xuyên suốt là thượng tôn Hiến pháp và tuân thủ các cam kết quốc tế. Theo đó, dù Hà Nội được trao nhiều cơ chế, chính sách đặc thù và quyền hạn rộng hơn trong tổ chức thực thi, mọi quy định đều phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp.
Cùng với việc mở rộng quyền hạn, dự thảo Luật đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Nếu thiếu các quy định về giải trình và công cụ giám sát hiệu quả, rất dễ dẫn đến nguy cơ biến “đặc thù” thành “đặc quyền”. Trong đó, công khai, minh bạch được xác định là công cụ then chốt, bảo đảm các chính sách liên quan trực tiếp đến người dân phải được công bố đầy đủ để nhân dân tham gia giám sát.
Trong quá trình thực hiện, cần thiết lập cơ chế xử lý rủi ro linh hoạt, cho phép điều chỉnh hoặc dừng thí điểm kịp thời khi phát sinh vấn đề hoặc không đạt hiệu quả như kỳ vọng, thay vì phải chờ đến khi kết thúc toàn bộ thời hạn thí điểm mới tiến hành đánh giá.
Nhà báo Trần Hữu Việt: Xin được hỏi ông Lê Trung Hiếu, trong thực tế triển khai chính sách tài chính, làm sao để tránh tình trạng “linh hoạt quá mức” dẫn tới rủi ro? Khi thành phố Hà Nội được trao quyền tự chủ tài chính lớn hơn với hàng trăm thẩm quyền, theo ông đâu là thách thức lớn nhất trong việc bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình?
Sở Tài chính khi tham mưu cho thành phố luôn phải bảo đảm một yêu cầu bắt buộc là đánh giá tính khả thi về nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài chính. Để dự án triển khai hiệu quả, nguồn vốn cần được cân đối đầy đủ. Hiện nay, cơ quan này đang xây dựng nghị quyết đánh giá hiệu quả đầu tư, trong đó làm rõ: mỗi đồng vốn Nhà nước bỏ ra mang lại bao nhiêu lợi ích, đồng thời có khả năng thu hút thêm bao nhiêu nguồn lực từ khu vực tư nhân và quốc tế. Đầu tư công vừa giúp gia tăng nguồn lực xã hội, vừa tạo thêm kênh giám sát từ các chủ thể tham gia.
Về cơ chế quản lý, thay vì kiểm soát chi tiết từng khoản chi như trước, chính sách tài chính được chuyển sang kiểm soát theo kết quả đầu ra. Đi kèm là cơ chế giám sát đa tầng, thực hiện theo hướng hậu kiểm, kết hợp kiểm tra định kỳ và đột xuất nhằm kịp thời phát hiện, điều chỉnh những bất cập trong quá trình thực hiện.
Nhà báo Trần Hữu Việt: Quan điểm của ông Nguyễn Quốc Hoàn về ý nghĩa của cơ chế thí điểm này là gì? Và ranh giới giữa “thử nghiệm để bứt phá” và “rủi ro thể chế” được kiểm soát ra sao, thưa ông?
Việc cho phép Hà Nội thí điểm các chính sách chưa có tiền lệ mang ba ý nghĩa chính. Thứ nhất, giúp Thủ đô chủ động ứng phó với những biến động nhanh của kinh tế-xã hội và sự phát triển của khoa học, công nghệ. Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý để xử lý các “điểm nghẽn” trong thực tiễn mà hệ thống pháp luật hiện hành chưa bao quát. Thứ ba, đóng vai trò tiên phong, làm cơ sở thực tiễn để tổng kết, nhân rộng các mô hình hiệu quả ra phạm vi cả nước.
Tuy nhiên, để bảo đảm “thử nghiệm để bứt phá” không trở thành rủi ro thể chế, dự thảo Luật đặt ra các ranh giới kiểm soát chặt chẽ. Cụ thể, xác định rõ các “vùng cấm” không được thí điểm như quốc phòng, an ninh, đối ngoại hay các vấn đề nhạy cảm liên quan sức khỏe con người; đồng thời yêu cầu mọi chính sách thí điểm phải bảo đảm không xâm phạm quyền con người, quyền công dân và không ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia.
Thành phố cũng phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm giải trình, đánh giá tác động và kịp thời điều chỉnh hoặc chấm dứt nếu phát sinh vấn đề.
Bên cạnh đó, việc thí điểm phải tuân thủ quy trình nghiêm ngặt, chỉ được triển khai sau khi có sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền; nội dung thí điểm phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi, thời gian, đối tượng và cơ chế kiểm soát rủi ro. Thành phố cũng phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm giải trình, đánh giá tác động và kịp thời điều chỉnh hoặc chấm dứt nếu phát sinh vấn đề.
TÀI CHÍNH DẪN DẮT PHÁT TRIỂN, KHƠI THÔNG NGUỒN LỰC
Nhà báo Trần Hữu Việt: Thưa ông Lê Trung Hiếu, dự thảo Luật Thủ đô sửa đổi đề cập tới “cơ chế tài chính đột phá”. Theo ông những công cụ tài chính nào sẽ giúp Hà Nội tạo bước nhảy vọt về hạ tầng và phát triển đô thị? Đâu là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay về tài chính?
Việc thử nghiệm các cơ chế mới là điều tất yếu để tìm kiếm động lực tăng trưởng mới, giúp Hà Nội phát triển tương xứng với vị thế và tầm nhìn trở thành thành phố toàn cầu vào năm 2065.
Hệ thống công cụ tài chính mới cũng được thiết kế đồng bộ, tạo hành lang pháp lý cho các mô hình phát triển hiện đại. Các lĩnh vực như kinh tế tầm thấp, kinh tế số, kinh tế tóc bạc, kinh tế đêm đã được định hình trong Luật Thủ đô, qua đó giúp Hà Nội có cơ sở pháp lý để cụ thể hóa và triển khai trong thực tiễn.
Luật Thủ đô (sửa đổi) cũng mở đường cho việc khai thác hiệu quả quỹ đất hình thành từ đầu tư công, như quỹ đất chung quanh các nhà ga đường sắt đô thị hoặc các khu vực mở rộng hạ tầng giao thông. Cách tiếp cận này hướng tới nguyên tắc hài hòa lợi ích: Nhà nước, người dân và nhà đầu tư cùng được hưởng giá trị gia tăng từ phát triển hạ tầng, đồng thời bổ sung nguồn thu cho ngân sách.
Hà Nội được trao thêm nhiều công cụ tài chính mới như phát hành trái phiếu địa phương, trái phiếu công trình, tín chỉ xanh, cũng như tham gia góp vốn cùng khu vực tư nhân thông qua các mô hình hợp tác công tư. Nếu được triển khai hiệu quả, đây sẽ là những kênh huy động vốn quan trọng, tạo dư địa lớn cho đầu tư phát triển.
Có hai điểm nghẽn lớn về tài chính. Thứ nhất, trước đây Nhà nước chưa có cơ chế thu hồi phần giá trị gia tăng từ đầu tư công, dẫn đến nguồn lực chưa được khai thác hiệu quả. Thứ hai, về điều hành ngân sách, Luật cho phép Ủy ban nhân dân thành phố chủ động, linh hoạt hơn trong quản lý ngân sách trung hạn và hằng năm. Tuy nhiên, việc điều hành này vẫn phải bảo đảm trách nhiệm giải trình, thông qua cơ chế báo cáo Hội đồng nhân dân thành phố tại kỳ họp gần nhất.
Nhà báo Trần Hữu Việt: Một vấn đề thực tiễn khác cũng đang được đặt ra là làm thế nào để các cơ chế, chính sách được ban hành kịp thời nhưng không rơi vào tình trạng “nhanh ở khâu xây dựng, chậm ở khâu thực thi”. Việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn hoặc thiếu đồng bộ trong tổ chức thực hiện có thể khiến chính sách bỏ lỡ “thời điểm vàng”, làm giảm hiệu quả trong thực tiễn. Ông Lê Trung Hiếu có thể chia sẻ làm sao để tránh tình trạng “cơ chế nhanh nhưng thực thi chậm”? Việc ban hành hướng dẫn cần làm gì để không lỡ “thời điểm vàng”?
Hà Nội đang đứng trước “thời điểm vàng” để khơi dậy và phát huy mạnh mẽ các nguồn lực nội sinh, tạo nền tảng bứt phá trong kỷ nguyên phát triển mới. Tuy nhiên, để không bỏ lỡ cơ hội này, điều quan trọng không chỉ nằm ở thiết kế chính sách, mà ở tốc độ và hiệu quả thực thi.
Thủ đô đã từng bước khắc phục tình trạng “chính sách nhanh, thực thi chậm” thông qua việc siết chặt kỷ luật hành chính. Hệ thống tiếp nhận và xử lý phản ánh của người dân được vận hành đồng bộ, từ cơ quan phục vụ hành chính công đến các nền tảng công nghệ thông tin, giúp theo dõi, giám sát toàn bộ quá trình xử lý hồ sơ, đơn thư. Các phản ánh được tiếp nhận, phân luồng và kiểm soát, bảo đảm không bị chậm trễ hay bỏ sót.
Đặc biệt, trách nhiệm giải quyết công việc được gắn trực tiếp với người đứng đầu. Nếu chậm trễ hoặc không phản hồi, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm. Chính cơ chế này đã góp phần khắc phục rõ rệt tình trạng chậm trễ, tạo chuyển biến thực chất trong tổ chức thực hiện.
Nhà báo Trần Hữu Việt: Từ kinh nghiệm xây dựng pháp luật của ông Nguyễn Quốc Hoàn, theo ông, làm sao để rút ngắn khoảng cách giữa luật và thực thi?
Theo dự kiến, nếu được thông qua, Luật Thủ đô (sửa đổi) sẽ có hiệu lực từ 1/7/2026, vì vậy ngay từ bây giờ, Hà Nội cần chuẩn bị đồng bộ cả chính sách và nguồn lực. Nếu chỉ có quy định mà thiếu nguồn lực về tài chính, nhân lực và điều kiện thực thi, chính sách sẽ khó đi vào cuộc sống. Do đó, việc xây dựng chính sách phải gắn với chuẩn bị sẵn các điều kiện triển khai, bảo đảm có thể thực hiện ngay khi văn bản được ban hành.
Luật Thủ đô (sửa đổi) sẽ có hiệu lực từ 1/7/2026, vì vậy ngay từ bây giờ, Hà Nội cần chuẩn bị đồng bộ cả chính sách và nguồn lực.
Thực tế, ngay trong quá trình xây dựng luật, các cơ quan đã chủ động chuẩn bị song song các dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố, nhằm bảo đảm khi luật được thông qua, các quy định có thể nhanh chóng được triển khai vào thực tiễn.
Nhà báo Trần Hữu Việt: Trân trọng mời ông chia sẻ từ Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An, khi Hà Nội được trao quyền chủ động lớn hơn, theo bà cần làm gì để các chính sách phát triển vẫn bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng nhanh và giữ gìn bản sắc Thủ đô?
Phát triển bền vững, hài hòa là mục tiêu xuyên suốt của cả nước và của Hà Nội. Nếu chỉ tập trung vào tăng trưởng trước mắt mà thiếu tầm nhìn dài hạn, sẽ khó giải quyết căn cơ các vấn đề của đô thị.
Định hướng đến năm 2065, Hà Nội đặt mục tiêu trở thành thành phố toàn cầu, với tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với nâng cao chất lượng sống của người dân: môi trường trong lành, giao thông thuận lợi, không ùn tắc, ngập úng; quyền được sống, làm việc, hưởng thụ văn hóa được bảo đảm. Đây là cách tiếp cận phát triển bao trùm, kết hợp hài hòa giữa các trụ cột kinh tế, môi trường, an sinh xã hội và văn hóa.
Thực tiễn cho thấy, người dân không quan tâm đến khẩu hiệu hay thẩm quyền, mà quan tâm trực tiếp đến hiệu quả: đô thị có thay đổi hay không, việc đi lại có thuận tiện hơn không, thông tin có minh bạch không, tiếng nói của họ có được lắng nghe hay không.
Để hiện thực hóa những kỳ vọng đã đặt ra, việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ thực thi là yếu tố quyết định. Luật không thể chỉ nằm trên giấy, trên báo hay trên sách. Luật phải được thực hiện trong cuộc sống, và vai trò của cán bộ, đặc biệt là những người đứng đầu, vô cùng quan trọng. Nếu không chuẩn bị được đội ngũ, Luật Thủ đô có sửa đến mấy cũng không thể triển khai hiệu quả.
Nhà báo Trần Hữu Việt: Xin trân trọng cảm ơn các vị khách mời đã tham gia chương trình!
