Trong niềm vui bất tận...

TỪ CHIẾN THẮNG ĐẾN HỒI SINH
Ngày 30/4/1975 khép lại một chương bi tráng trong lịch sử dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới của hòa bình và thống nhất. Nhưng chiến thắng không đồng nghĩa với ngày mai tươi sáng ngay lập tức. Khi khói súng vừa tắt, đất nước đối diện với những thử thách không kém phần khốc liệt: nền kinh tế kiệt quệ, cơ sở hạ tầng đổ nát, đời sống nhân dân chồng chất khó khăn. Cùng với đó là những tổn thương tinh thần và những vết thương chiến tranh còn hằn sâu trong lòng mỗi gia đình. Hành trình tái thiết đất nước bắt đầu từ những điều nhỏ nhất - những ngôi trường được dựng lại từ đống đổ nát, những cánh đồng khô cằn hồi sinh, những nhà máy cũ kỹ sáng đèn trở lại. Đó là hành trình của những con người vừa bước ra từ cuộc chiến, mang trong mình khát khao hàn gắn và xây dựng. Không chỉ là khôi phục vật chất, mà còn là sự hòa hợp dân tộc, mở ra cánh cửa để những con người từng đứng ở hai chiến tuyến cùng nhìn về một hướng. Năm mươi năm sau, nhìn lại chặng đường ấy, chúng ta thấy không chỉ là một cuộc hồi sinh kỳ diệu mà còn là sự chứng minh rằng dân tộc Việt Nam, bằng ý chí và lòng yêu nước, có thể vượt qua mọi thử thách để dựng xây một tương lai vững bền

Những người trong cuộc của Ngày chiến thắng 30/4 mới hiểu sâu sắc sự hy sinh vô giá của cán bộ, chiến sĩ quân đội ta và những đóng góp to lớn, thầm lặng của người dân hai miền bắc-nam. Đó là những nhân tố làm nên chiến thắng.
Tôi đã chứng kiến ngày 30/4/1975. Sát cánh cùng bộ đội khắp các ngả đường tiến vào Sài Gòn là đông đảo người dân, những người thợ, các tăng ni, phật tử giữa lòng thành phố, lớp lớp cờ đỏ sao vàng, ảnh Bác Hồ, cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam hòa trong tiếng hò reo vang mừng chiến thắng.
Bất chấp nguy hiểm, nhiều người nhảy lên ô-tô, xe pháo của bộ đội giải phóng quân.
Nhiều binh lính ngụy cởi bộ quần áo lính, chỉ còn mặc may-ô, cởi trần gia nhập hàng ngũ, trở về với nhân dân.
Các anh bộ đội khuôn mặt sạm nắng gió, hồ hởi với những nụ cười tươi vẫy chào thân thiết người dân.
Đó là kỷ niệm suốt cuộc đời chúng tôi không thể quên, sâu đậm niềm hân hoan chiến thắng của toàn dân tộc, của mọi người dân.
Chỉ mấy chục phút sau khi bộ đội ta tiến vào Dinh Độc Lập. Phía trước cổng Dinh đã diễn ra cuộc gặp gỡ giữa người dân Sài Gòn với các anh bộ đội, những người lính giải phóng trẻ măng. Gương mặt ngỡ ngàng của các bà mẹ, chị em phụ nữ, những người thợ trở nên hồ hởi, hỏi thăm những đứa con, những người thân tham gia quân giải phóng hay bộ đội tập kết ra bắc hôm nay có trở về thành phố không? Giọng bắc, giọng nam, giọng miền trung, tiếng Huế không trộn lẫn vào đâu được hòa trong câu chuyện…
Nhân dân Sài Gòn ra đường đón chào quân Giải phóng, ngày 30-4-1975. Ảnh Lâm Hồng Long (TTXVN)
Nhân dân Sài Gòn ra đường đón chào quân Giải phóng, ngày 30-4-1975. Ảnh Lâm Hồng Long (TTXVN)
Mùa xuân năm 1975 ấy, cùng với các phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, anh Lâm Hồng Long, Hữu Quả, Trần Mai Hưởng, tôi và Hoàng Thiểm là hai phóng viên quân sự của Cục Tuyên huấn - Tổng cục Chính trị, chúng tôi đi theo mũi tiến công của Quân đoàn II cùng lực lượng vũ trang Trị Thiên.
Mờ sáng ngày 25/3, chúng tôi đã có mặt ở thành phố Huế. Đó là ngày hội quân và dân trên mảnh đất cố đô. Trước cửa Ngọ Môn, chùa Thiên Mụ, dọc hai bên bờ sông Hương, lực lượng dân quân tự vệ nai nịt súng ống gọn gàng ngồi trên xe tăng, xe chở pháo vượt qua bờ nam cầu Tràng Tiền, học sinh, sinh viên trong tà áo trắng chạy xe máy bám theo đoàn xe chở bộ đội.
Nhà báo Ngọc Đản (ngoài cùng, bên phải) cùng các đồng nghiệp Trần Mai Hưởng (giữa) và Hoàng Thiểm qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng giải phóng.
Nhà báo Ngọc Đản (ngoài cùng, bên phải) cùng các đồng nghiệp Trần Mai Hưởng (giữa) và Hoàng Thiểm qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng giải phóng.
Chúng tôi đã gặp lại những gương mặt thân quen cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Phú Xuân, K8, K3, những đơn vị đã bám trụ chiến trường này trong những năm tháng gian khổ ác liệt nhất của cuộc chiến tranh, tôi luyện nên những phẩm chất kiên cường dũng cảm vì Tổ quốc, vì nhân dân của người chiến sĩ. Bao nhiêu cơ sở cách mạng trong lòng thành phố Huế mới bộc lộ lòng dân luôn hướng về cách mạng mà sự hy sinh của bà con, cô bác cũng không kém gì nơi bom rơi, đạn nổ. Họ đã “lót ổ” bằng máu và nước mắt để làm nên chiến công của ngày chiến thắng…
Chúng tôi được biết, khi chúng ta giải phóng Huế, Nguyễn Văn Thiệu và một số tướng lĩnh ra Đà Nẵng thị sát tình hình đã chủ quan cho rằng phải mất một thời gian, quân giải phóng mới có thể tiến vào Đà Nẵng. Chúng chuyển gấp súng đạn từ kho Long Bình tăng cường cho lực lượng phòng thủ Đà Nẵng.
Kẻ địch đã bất ngờ trước quyết định của Bộ Chính trị phải chớp thời cơ nhanh chóng giải phóng các tỉnh miền trung và Nam Trung Bộ. Vẻn vẹn trong ba ngày đánh địch trong hành tiến, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 304, 325 cùng với xe tăng đã thần tốc tiến vào Đà Nẵng, đánh chiếm sân bay, căn cứ Hòa Cầm. Dựa vào nhân dân, dùng xe chở khách đưa một số đơn vị của Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 tiến vào Sơn Trà đánh chiếm quân cảng địch.
Chiến sĩ Trung đoàn 101, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 tiến vào Đại nội (Huế). Ảnh tư liệu.
Chiến sĩ Trung đoàn 101, Sư đoàn 325, Quân đoàn 2 tiến vào Đại nội (Huế). Ảnh tư liệu.
Trong các ngày 28 và 29/3. Các mũi tiến công của các lực lượng vũ trang Quân khu V và quần chúng nổi dậy giải phóng Hội An. Đúng 8 giờ 30 phút ngày 29/3, các đơn vị chủ lực của Sư đoàn 304 đánh thẳng vào trung tâm thành phố, cắm lá cờ đỏ chiến thắng trên Tòa thị chính Đà Nẵng. Vào những giờ phút đầu tiên ấy, trời lất phất mưa. Chúng tôi đã chứng kiến niềm vui khôn xiết của người dân, của lực lượng quần chúng nổi dậy cùng với bộ đội xe tăng, pháo cao xạ, bộ binh nhanh chóng làm chủ đường phố, các căn cứ, trụ sở hành chính của chính quyền Sài Gòn nơi đây.
Trong những ngày đầu tháng 4 lịch sử năm đó, chúng tôi đã sống trong không khí chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công giải phóng miền nam, thống nhất đất nước ở nhiều đơn vị của Quân đoàn II, cũng như gặp gỡ, tiếp xúc với chính quyền cách mạng mới ra đời của các địa phương. Ở đâu cũng có cơ sở cách mạng của mình đã trải qua thử thách nay thêm “bám rễ, xanh cây”, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội trong hoàn cảnh vừa mới giải phóng tưởng chừng địch-ta còn lẫn lộn. Mối quan hệ quân dân thân tình, cởi mở như làm tăng thêm sức mạnh của bộ đội ta. Đó là bản lĩnh chính trị tuyệt vời của anh Bộ đội Cụ Hồ trong công tác vận động quần chúng, không mơ hồ mất cảnh giác trước kẻ địch nhưng luôn coi người dân là chỗ dựa tinh thần không gì thay thế được.
Bộ đội ta tranh thủ từng giờ, từng phút cùng với lực lượng vũ trang địa phương, cán bộ cốt cán xây dựng chính quyền cách mạng vùng mới giải phóng, động viên, tổ chức huy động lực lượng nhân dân tham gia phục vụ chiến đấu. Dọc Quốc lộ 1, từ Đà Nẵng vào Nha Trang, Bình Thuận, Ninh Thuận tiến vào cửa ngõ Sài Gòn, bên cạnh xe ô-tô của Đoàn 559, còn những đoàn xe khách của các địa phương vùng mới giải phóng chở bộ đội ta hành quân. Các chiến sĩ mới nhập ngũ năm 1974 còn trẻ măng vừa mới qua huấn luyện mấy tháng. Lực lượng dự trữ của chiến dịch được “tung vào” đội hình tiến quân. Nét mặt ai cũng hồn nhiên, hồ hởi. Họ không ngờ đã trở thành chứng nhân lịch sử của cuộc chiến tranh giải phóng, thống nhất đất nước.
Nhân dân Sài Gòn đổ ra đường đón chào quân giải phóng trưa ngày 30/4/1975. Ảnh Tư liệu (TTXVN)
Nhân dân Sài Gòn đổ ra đường đón chào quân giải phóng trưa ngày 30/4/1975. Ảnh Tư liệu (TTXVN)
Cũng nhờ xe đò của người dân, tôi và anh Hoàng Thiểm theo sự hướng dẫn của Cục Tuyên huấn - Tổng cục Chính trị từ Hà Nội mà chiều 28/4 chúng tôi đến sở chỉ huy tiền phương cánh quân hướng Đông Bắc ở trong cánh rừng cao su Xuân Lộc, cách chiến tuyến trong tầm đạn pháo. Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, lúc đó là Cục trưởng Văn hóa, đặc trách công tác chính trị và sau đó, ngày 29/4, Thượng tướng Lê Khả Phiêu, lúc đó là Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn II đã cho chiến sĩ liên lạc đưa chúng tôi đến Trung đoàn 66 - mũi tiến công thọc sâu của Sư đoàn 304 đang phối hợp với Lữ đoàn xe tăng 203. Những trận đánh đã diễn ra ác liệt ở căn cứ trước đường tiến công của nhiều đơn vị trong Sư đoàn để ra đường 15 vừa kết thúc, kịp thời mở đường cho lực lượng Trung đoàn 66 đập tan toàn bộ quân phòng ngự của địch ở cầu Sài Gòn tiến vào thành phố. Chúng tôi theo xe tăng của Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203 có mặt ở Dinh Độc Lập vào lúc 11 giờ 24 phút ngày 30/4 và ngay lập tức chạy lên đại sảnh chứng kiến nội các ông Dương Văn Minh đầu hàng trước sự có mặt của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 và Lữ đoàn xe tăng 203. Vào lúc 11 giờ 30 phút lá cờ giải phóng do Trung úy Đại đội trưởng Bùi Quang Thận cắm trên nóc Dinh Độc Lập, phất phới tung bay.
Xe tăng của Lữ đoàn tăng – thiết giáp 203, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tiến vào Dinh Độc Lập, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)
Xe tăng của Lữ đoàn tăng – thiết giáp 203, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tiến vào Dinh Độc Lập, trưa 30/4/1975. (Ảnh: Trần Mai Hưởng/TTXVN)
Nhập vào dòng chảy đó, tôi không thể quên trận tuyến của lòng dân. Hành trình từ Huế vào Sài Gòn theo các đoàn quân, ở nơi nào cũng bắt gặp những gia đình, những bà mẹ yêu thương có con em đi chiến đấu đã bặt tin tức chưa trở về, nay mừng vui khi gặp các anh bộ đội như đứa con đẻ của mình.
Rất lạ là nhiều binh lính ngụy quay về với cách mạng và mong muốn làm một việc gì đó có ích cho đất nước. Tôi đã chứng kiến hàng chục binh lính ngụy đầu hàng ngồi xếp hàng trong Dinh Độc Lập trước ngày 30/4. Lúc đó tôi hỏi: “Ai có thể lái xe đưa tôi mang tài liệu phim ảnh về Hà Nội. Đây là thời cơ để phục vụ cách mạng”. Thế là tất cả đều giơ cánh tay lên. Tôi đã chọn một trong số họ.
Ngồi trong chiếc xe Zep 6 máy tôi mới biết đó là Vũ Cự Long quê ở Bình Định, là “công xa trưởng” lái xe dẫn đường cho yếu nhân của chính quyền Sài Gòn. Một mình Long lái xe suốt chiều 30 đến rạng sáng ngày 2/5 đưa tôi và anh Hoàng Thiểm về Đà Nẵng.
Trước khi rời Sài Gòn, theo yêu cầu nghiệp vụ, Long đã nhanh chóng đưa chúng tôi đến Bộ Tổng Tham mưu ngụy. Sân bay Tân Sơn Nhất còn mịt mù lửa đạn. Ngay tại sân bay tôi đã chụp được hình ảnh nữ biệt động Nguyễn Trung Kiên (tức cô Nhíp) dẫn đường cho xe thiết giáp của Quân đoàn III đánh chiếm Tân Sơn Nhất…
Lực lượng xe tăng Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) được nữ chiến sĩ biệt động Nguyễn Trung Kiên (Cao Thị Nhíp) dẫn đường, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Lực lượng xe tăng Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) được nữ chiến sĩ biệt động Nguyễn Trung Kiên (Cao Thị Nhíp) dẫn đường, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)
Mới đây, tôi có dịp trở lại thành phố mang tên Bác, gặp nhiều bà con, cô bác quen biết. Đã 50 năm trôi qua, nhưng khi nhắc đến ngày chiến thắng 30/4, câu chuyện trở nên sôi nổi về những năm tháng hoạt động cách mạng, che tai mắt của kẻ thù, vượt qua bao thách thức, hy sinh, góp phần làm nên những chiến công đánh địch trong lòng thành phố hay ở vùng ven rồi lên chiến khu tham gia bộ đội chủ lực, trở về với mảnh đất này trong niềm vui bất tận của ngày toàn dân tộc giành độc lập, thống nhất đất nước.
Thời gian mãi còn lưu giữ bao hình ảnh của chiến thắng từ lòng dân.
Cờ giải phóng tung bay trên sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)
Cờ giải phóng tung bay trên sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Quang Thành/TTXVN)