toàn cầu
TỪ NGỌN ĐUỐC NGHỊ QUYẾT 23
ĐẾN DẤU CHÂN TOÀN CẦU CỦA TRÍ TUỆ VIỆT
Ngày 2/8/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW, lần đầu tiên khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là "nguồn lực chiến lược quan trọng", góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Đây cũng là một trong những lời giải cho nhiệm vụ phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia mà Nghị quyết số 57-NQ/TW vốn được ví như "Khoán 10" trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đã đặt ra trước đó.
Theo đó, cần ban hành cơ chế đặc thù thu hút người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ cao về nước làm việc, sinh sống. Đồng thời, trọng dụng các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia, "tổng công trình sư" có khả năng tổ chức, điều hành các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Từ những câu chuyện cụ thể, những con số và góc nhìn của các chuyên gia, vệt bài “Kết nối trí tuệ Việt toàn cầu, tạo nguồn lực phát triển đất nước” đi tìm lời giải cho bài toán đánh thức nguồn lực đang hiện diện ở khắp năm châu; đồng thời nhận diện những điểm nghẽn về thể chế, cơ chế tiếp nhận, đặt hàng và trọng dụng nhân tài cần được tháo gỡ.
Bởi để hiện thực hóa khát vọng phát triển đến năm 2045, nguồn lực của đất nước không chỉ nằm trong biên giới Việt Nam. Ở bất cứ nơi nào có người Việt sinh sống, sáng tạo và thành công, ở đó có thể là một phần của sức mạnh Việt Nam.
KẾT NỐI
TRÍ TUỆ VIỆT
TOÀN CẦU
Tạo nguồn lực phát triển đất nước
Gần 6,5 triệu người Việt đang sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, hơn 80% trong số đó ở các nước phát triển. Trong dòng chảy đó có những cái tên đã ghi dấu ấn trên bản đồ khoa học, công nghệ thế giới. Nhưng làm thế nào để dòng chất xám phân tán khắp năm châu ấy hội tụ lại, trở thành động lực cho một Việt Nam đang chuyển mình?
Chuyện của một người “lỡ nhịp”
Tiến sĩ Tuấn Bendixsen quốc tịch Australia gốc Việt, định cư tại Australia từ năm 1973. Ông là Tiến sĩ công nghệ sinh học, từng nghiên cứu chuyên sâu về vaccine cho cừu và bò ở Đại học Sydney, Australia.
Đầu những năm 2000, nhận lời mời của Giáo sư Tôn Thất Bách trong một dự án về công nghệ sinh học tại Đại học Y Hà Nội, ông trở về Việt Nam với quyết tâm làm gì đó để giúp đất nước.
Nhưng mọi chuyện không suôn sẻ như mong muốn của ông, dự án không triển khai được do nhiều lý do. Nhà khoa học trẻ chưa đầy 40 tuổi đứng giữa hai lựa chọn, một là quay lại Đại học Sydney để tiếp tục theo đuổi nghiên cứu còn dở dang, hai là bằng mọi cách để ở lại phục vụ quê hương.
Ông đã chọn cách thứ hai. Đầu tiên, ông làm việc cho Chương trình TOKTEN nhằm huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tri thức của kiều dân, "đảo ngược dòng chảy chất xám" ở các quốc gia đang phát triển của Liên hợp quốc phối hợp với Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài nhằm đưa các nhà khoa học, chuyên gia kiều bào về làm việc tình nguyện trong nước. Nhưng những nỗ lực của ông cũng không mang lại được nhiều kết quả, không giúp được gì nhiều cho những trí thức Việt kiều đang muốn về nước cống hiến như ông. Chương trình nhanh chóng chấm dứt hoạt động.
Ông giúp Việt Nam từ một nước có hơn 4.000 cá thể gấu bị bắt nuôi nhốt để chích hút mật vào năm 2005 đến nay chỉ còn 129 con.
Sau đó, ban ngày ông tình nguyện đến làm việc không lương tại Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương thuộc Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để giúp bà con về cách điều trị chẩn đoán bệnh, nuôi dưỡng dê và trâu bò. Ban đêm, ông đến các trung tâm ngoại ngữ dạy tiếng Anh để kiếm sống.
Năm 2005, ông quyết định làm việc cho Tổ chức động vật châu Á (AAF) sau khi thấy gấu bị đối xử quá tàn tệ tại Việt Nam, và gắn bó với việc cứu hộ gấu từ đó cho đến tận bây giờ.
Hơn 20 năm qua, ông đã “bỏ quên” công nghệ vaccine mình từng nghiên cứu, thứ công nghệ mà sau này các nhà khoa học thế giới đã sử dụng bào chế vaccine chống lại đại dịch Covid-19 để cứu cả nhân loại. Nhưng ông đã thành công trên một “ngã rẽ” khác, đó là giúp Việt Nam từ một nước có hơn 4.000 cá thể gấu bị bắt nuôi nhốt để chích hút mật vào năm 2005 đến nay chỉ còn 129 con.
Đầu những năm 2000, nhận lời mời của Giáo sư Tôn Thất Bách trong một dự án về công nghệ sinh học tại Đại học Y Hà Nội, Tiến sĩ Tuấn Bendixsen trở về Việt Nam với quyết tâm làm gì đó để giúp đất nước.
Đầu những năm 2000, nhận lời mời của Giáo sư Tôn Thất Bách trong một dự án về công nghệ sinh học tại Đại học Y Hà Nội, Tiến sĩ Tuấn Bendixsen trở về Việt Nam với quyết tâm làm gì đó để giúp đất nước.
Đích đến của Tiến sĩ Tuấn Bendixsen đã ở ngay trước mắt, khi ông đang cùng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường vận động các chủ gấu giao nộp nốt những con gấu này về trung tâm cứu hộ trong năm 2026, để sớm đưa Việt Nam thành một nước không còn gấu nuôi nhốt đúng như cam kết với quốc tế.
“Người tài không sợ khó. Họ chỉ sợ vô nghĩa”
Dấu chân người Việt đã đặt đến hơn 130 quốc gia trên toàn cầu, với hơn 6,5 triệu đồng bào đang ở xa Tổ quốc. Trong đó, trí thức có bằng cử nhân trở lên chiếm khoảng 10-15%, tương đương 650.000 người.
Trung bình mỗi năm có khoảng 300-400 trí thức Việt kiều tình nguyện trở về nước
Theo thống kê của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, trung bình mỗi năm có khoảng 300-400 trí thức Việt kiều tình nguyện trở về nước đóng góp vào công tác giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong nhiều lĩnh vực, trong số đó có những người tự nguyện cống hiến cả phần đời còn lại của mình cho quê hương như Tiến sĩ Tuấn Bendixsen.
Các hiệp hội và mạng lưới của người Việt tại nước ngoài cũng ngày càng phát triển, với 10 mạng lưới đổi mới sáng tạo quy tụ 2.000 chuyên gia tại nhiều quốc gia và hơn 30 hiệp hội chuyên gia và trí thức nước ngoài.
Tận dụng kiến thức, kinh nghiệm quốc tế và mạng lưới quan hệ rộng khắp, các trí thức Việt kiều đã trở thành cầu nối đưa công nghệ tiên tiến, chuyên môn và thực tiễn quản trị đến Việt Nam.
Thanh niên kiều bào tại Trại hè Việt Nam 2026.
Thanh niên kiều bào tại Trại hè Việt Nam 2026.
Tuy nhiên, Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị đã thẳng thắn thừa nhận, việc phát huy nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước “chưa tương xứng với tiềm năng”.
Vậy nghẽn ở đâu?
Theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải, điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở tiền, cũng không nằm ở tình cảm. Tình cảm hướng về Tổ quốc của kiều bào là điều không phải bàn cãi. Điểm nghẽn lớn nhất là chúng ta chưa có đủ “bài toán” đủ tầm và chưa có “địa chỉ” chịu trách nhiệm tiếp nhận. Nói ngắn gọn: chúng ta mời người tài về, nhưng chưa chuẩn bị sẵn cái bàn làm việc cho họ.
Thanh niên kiều bào tại Trại hè Việt Nam 2026.
Thanh niên kiều bào tại Trại hè Việt Nam 2026.
Ông Trần Văn Khải phân tích điểm nghẽn này có ba lớp:
Lớp thứ nhất là thiếu bài toán. Nhà khoa học giỏi không đi tìm nơi trả lương cao nhất; họ đi tìm nơi công việc của họ có ý nghĩa lớn nhất. Báo cáo sơ kết 1 năm 6 tháng thực hiện Nghị quyết 57 chỉ rõ: phần lớn bài toán vẫn đang xây dựng, thẩm định hoặc chuẩn bị đặt hàng; việc chuyển thành nhiệm vụ có sản phẩm cụ thể, có doanh nghiệp dẫn dắt còn chậm. Khi bài toán chưa rõ, lời mời gọi dù chân thành đến đâu cũng chỉ dừng ở tấm lòng.
Lớp thứ hai là thiếu chủ thể chịu trách nhiệm đến cùng. Chúng ta còn thiếu đầu mối đủ thẩm quyền để đặt hàng, ký hợp đồng, giải ngân và nghiệm thu với một chuyên gia đang ở nước ngoài. Báo cáo sơ kết đánh giá rất thật: chính sách thu hút nhân tài “chưa gắn đồng bộ với nhiệm vụ lớn, điều kiện nghiên cứu, đãi ngộ theo kết quả và cơ chế giữ chân”; việc tuyển chọn, sử dụng Tổng công trình sư, Kiến trúc sư trưởng “chưa có kết quả rõ nét, có nơi chưa thực hiện”. Chính sách thì có, nhưng người bấm nút là ai thì chưa rõ.
Lớp thứ ba là chi phí ma sát của thủ tục. Định mức chi lạc hậu, không phản ánh chi phí thực tế của lao động chất xám; thẩm định đơn sở hữu trí tuệ kéo dài 12–18 tháng; chưa có phương pháp định giá tài sản trí tuệ thống nhất khiến cán bộ e ngại trách nhiệm; thủ tục thị thực, thanh toán quốc tế, nhập khẩu thiết bị còn nhiều tầng nấc. Mỗi thủ tục nhỏ là một “giọt nước lạnh” dội vào nhiệt huyết.
“Ba lớp ấy cộng lại tạo ra một nghịch lý: chúng ta trải thảm đỏ ở ngoài cổng, nhưng bên trong chưa dọn phòng”, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Trần Văn Khải đúc kết.
Ba lớp ấy cộng lại tạo ra một nghịch lý: chúng ta trải thảm đỏ ở ngoài cổng, nhưng bên trong chưa dọn phòng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo rất rõ: phải có chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở trong và ngoài nước, kết nối hiệu quả mạng lưới trí thức Việt Nam toàn cầu. Việc đầu tiên phải làm là công khai danh mục bài toán quốc gia kèm ngân sách, chủ đầu tư và thời hạn, như một đơn đặt hàng thực sự.
“Người tài không sợ khó. Họ chỉ sợ vô nghĩa”, ông Trần Văn Khải khẳng định.
Từ "vận động, chăm lo" đến "đồng hành, kiến tạo"
Cuối năm 2024, giữa lúc cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang định hình lại tương quan sức mạnh giữa các quốc gia, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết khẳng định: "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc".
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân, với 40-50 tổ chức khoa học công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo; đến năm 2045, kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP, Việt Nam trở thành một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới, nằm trong nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Nhưng một mục tiêu lớn như vậy đòi hỏi huy động đồng bộ nhiều nguồn lực - từ hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng, đến phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài và đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Trong bức tranh tổng thể đó, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một nguồn lực giàu tiềm năng, cần tiếp tục được kết nối và phát huy hiệu quả hơn nữa trong giai đoạn phát triển mới.
Ngày 2/8/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, thay thế Nghị quyết số 36-NQ/TW ban hành cách đây hơn 20 năm với nhiều điểm “rất mới, rất đặc biệt, rất trọng tâm”. Bộ Chính trị nhấn mạnh, trong giai đoạn mới, công tác người Việt Nam ở nước ngoài cần nâng tầm tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn trong hành trình hội nhập, xây dựng và phát triển của đất nước[1].
Thứ trưởng Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng. (Ảnh: Bộ Ngoại giao)
Thứ trưởng Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng. (Ảnh: Bộ Ngoại giao)
Ông Nguyễn Trung Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. (Ảnh: Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài)
Ông Nguyễn Trung Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. (Ảnh: VGP)
Điểm mới bao trùm nhất, theo Thứ trưởng Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng, là việc Nghị quyết không chỉ khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc, mà còn nhấn mạnh đây là "một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia". Cùng với đó, tư duy về công tác này được nâng từ "vận động, tập hợp, chăm lo" lên thành "đồng hành, kiến tạo cơ chế" để kiều bào tham gia sâu hơn vào hành trình hội nhập, xây dựng và phát triển đất nước[3].
Sự chuyển dịch tư duy ấy không phải ngẫu nhiên. Theo Nghị quyết, tỷ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng tăng, độ tuổi ngày càng trẻ; nhiều người đã nắm giữ vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị, khoa học, kinh doanh ở nước sở tại. Nghị quyết 23 xác định rõ, việc phát huy nguồn lực kiều bào phục vụ phát triển đất nước cần ưu tiên đặc biệt cho các lĩnh vực: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và công nghệ sinh học, trùng với các lĩnh vực mà Nghị quyết 57 đã xác lập là trọng tâm.
Theo ông Nguyễn Trung Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, thực tiễn mới đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc đổi mới, nâng cao công tác người Việt Nam ở nước ngoài: không chỉ dừng lại ở việc bảo hộ, chăm lo thuần túy, mà còn cần chủ động nâng tầm vị thế cho cộng đồng, hỗ trợ kiều bào củng cố chỗ đứng vững chắc về cả chính trị lẫn kinh tế tại nước sở tại; xây dựng cơ chế giúp người Việt Nam ở nước ngoài có thể phát huy ảnh hưởng, uy tín, nguồn lực và kinh nghiệm để đóng góp cho quê hương. Cộng đồng người Việt toàn cầu sẽ được đặt vào vị trí chủ thể, cùng tham gia giải quyết các bài toán phát triển quốc gia. Tiến trình này đòi hỏi những bước chuyển đổi cốt lõi: từ “kết nối” sang “đồng kiến tạo”, từ “vận động” sang ‘thể chế hóa nguồn lực”, từ “bảo tồn” sang “lan tỏa giá trị Việt”. Qua đó, khơi dậy và phát huy tối đa mọi nguồn lực của kiều bào phục vụ cho các mục tiêu phát triển chiến lược của đất nước.[4]
"Cộng đồng người Việt toàn cầu sẽ được đặt vào vị trí chủ thể, cùng tham gia giải quyết các bài toán phát triển quốc gia.
Tinh thần ấy cũng tiếp nối thông điệp mà Tổng Bí thư Tô Lâm từng nhấn mạnh: "Mọi người con đất Việt - dù sinh sống ở đâu, dù quá khứ thế nào - đều có thể đồng hành, chung sức, góp phần xây dựng một tương lai tươi sáng cho dân tộc. Đảng và Nhà nước luôn nhất quán mở rộng vòng tay, trân trọng mọi đóng góp, lắng nghe mọi tiếng nói xây dựng, đoàn kết từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài — những người đang góp phần kết nối Việt Nam với thế giới". Tổng Bí thư Tô Lâm, bài viết "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" (5/2025)
Bài học từ hai thập niên trước và bài toán đánh thức nguồn lực phân tán
Vậy Nghị quyết 23 khác gì so với Nghị quyết 36 - văn kiện đã dẫn dắt công tác người Việt Nam ở nước ngoài suốt hơn 20 năm qua? Theo chia sẻ của lãnh đạo Bộ Ngoại giao tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại giao 33, Nghị quyết 23 không thay đổi nền tảng tư tưởng của Nghị quyết 36, mà kế thừa toàn diện tinh thần đại đoàn kết dân tộc và phát triển lên một bước mới, với ba điểm mới cụ thể về nhiệm vụ, giải pháp và phương thức triển khai.
Thứ nhất, về mục tiêu, Nghị quyết 23 xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên phát huy nguồn lực kiều bào - khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học và hệ sinh thái khởi nghiệp - thay vì huy động nguồn lực một cách chung chung như trước.
Thứ hai, về phương thức huy động, thay vì chủ yếu vận động, thu hút các cá nhân riêng lẻ như giai đoạn trước, Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới và hệ sinh thái toàn cầu để kết nối có hệ thống chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài. Việc đóng góp cũng được mở rộng linh hoạt hơn — không nhất thiết phải trở về nước làm việc trực tiếp, mà có thể đóng góp từ xa dưới nhiều hình thức phù hợp.
Thứ ba, về mức độ tham gia, Nghị quyết chuyển từ định hướng khuyến khích đồng bào đóng góp xây dựng quê hương, sang tạo điều kiện để kiều bào tham gia sâu rộng hơn — kể cả góp ý xây dựng chủ trương, chính sách, tham gia các chương trình phát triển quốc gia.
Nhưng nhìn nhận đúng vai trò của kiều bào chỉ là bước đầu. Câu hỏi đặt ra là: làm sao để đánh thức và kết nối nguồn lực chiến lược này, khi hơn 6,5 triệu người đang phân tán ở khắp các châu lục, với những điều kiện sống, làm việc và mối quan tâm rất khác nhau?
Đứng trước yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, ngoại giao không chỉ làm cầu nối, mà phải trở thành chất xúc tác gắn kết thế mạnh của kiều bào với những nhu cầu ưu tiên của đất nước, của từng địa phương.
Theo Thứ trưởng ngoại giao Lê Thị Thu Hằng, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần chủ động phát hiện, tập hợp và kết nối doanh nhân, trí thức, chuyên gia và các hội đoàn có tiềm năng; trong khi các địa phương trong nước cần xác định rõ nhu cầu, xây dựng danh mục dự án và cơ chế tiếp nhận phù hợp.
"Khi hai chiều cung-cầu được kết nối hiệu quả, nguồn lực của kiều bào mới có thể được chuyển hóa thành giá trị phát triển thực chất" — bà nhấn mạnh, đồng thời cho rằng chuyển đổi số cần trở thành công cụ để xây dựng cơ sở dữ liệu, kết nối chuyên gia và theo dõi hiệu quả hợp tác.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, điểm rất mới và có ý nghĩa chiến lược của Nghị quyết 23 là chúng ta đang mở rộng cách hiểu về nguồn lực quốc gia. Sức mạnh của Việt Nam không chỉ nằm trong biên giới Việt Nam, mà còn hiện diện ở bất cứ nơi nào có người Việt Nam sinh sống, làm việc, sáng tạo và có khát vọng đóng góp cho đất nước.
Cán bộ nhân viên FPT tại Nhật Bản.
Cán bộ nhân viên FPT tại Nhật Bản.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một nguồn lực đặc biệt bởi họ đồng thời thuộc về hai không gian: không gian Việt Nam và không gian toàn cầu. Họ hiểu Việt Nam nhưng cũng hiểu thế giới; có tình cảm với quê hương nhưng đồng thời có tri thức, công nghệ, mạng lưới và kinh nghiệm được tích lũy tại những trung tâm phát triển hàng đầu.
Vì vậy, đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài không nên chỉ được nhìn qua kiều hối, dù riêng năm 2025 đã đạt khoảng 17,7 tỷ USD. Nguồn lực quý giá hơn còn là trí tuệ, công nghệ, vốn đầu tư, mạng lưới kinh doanh, quan hệ quốc tế và sức mạnh kết nối.
Muốn trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải huy động được những nguồn lực tốt nhất của dân tộc, bất kể những nguồn lực ấy đang ở đâu.
“Theo tôi, vì thế, cần tiến thêm một bước trong tư duy: từ “thu hút kiều bào đóng góp” sang kiến tạo một cộng đồng phát triển Việt Nam toàn cầu. Khi đó, hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động”, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng phân tích.
Ông cho rằng, khát vọng 2045, xét đến cùng, không chỉ là khát vọng của Việt Nam trong lãnh thổ quốc gia. Đó phải là khát vọng chung của người Việt Nam trên toàn thế giới.
Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động
Sau gần 30 năm trở về Việt Nam với những bước đi gập ghềnh gian khó, Tiến sĩ Tuấn Bendixcen đã được cấp căn cước công dân và có hai quốc tịch. Đến tuổi được nghỉ ngơi nhưng ông vẫn đang dốc phần sức nhỏ bé của mình để cứu nốt những con gấu khỏi bị giam hãm trong những chiếc lồng sắt.
Tiến sĩ Tuấn Bendixcen và thành viên tổ chức AAF tại Vườn Quốc gia Bạch Mã.
Tiến sĩ Tuấn Bendixcen và thành viên tổ chức AAF tại Vườn Quốc gia Bạch Mã.
Giấc mơ nghiên cứu khoa học đã quá xa vời với một trí thức Việt kiều, nhưng ông vẫn lạc quan tâm sự: “Tôi về nước đã lâu và có may mắn được chứng kiến đất nước đổi thay từng ngày. Điều tôi thấy đáng quý là chủ trương coi người Việt Nam ở nước ngoài là một phần không tách rời của dân tộc vốn đã có từ nhiều năm nay, nhưng Nghị quyết lần này đi thêm một bước rất quan trọng: nhìn kiều bào như một nguồn lực chiến lược và một đối tác đồng hành, chứ không phải chỉ là nguồn lực để huy động”.
Theo ông, đó là một thay đổi về tư duy. Người Việt ở nước ngoài có thể cùng xây dựng đất nước bằng tri thức, công nghệ, kinh nghiệm và mạng lưới quốc tế.
Tôi cũng rất ủng hộ những điểm mới như tạo điều kiện thuận lợi hơn về đầu tư, sở hữu nhà ở, giữ quốc tịch và cơ chế hai quốc tịch. Những chính sách ấy giúp nhiều người cảm thấy con đường trở về gần hơn và rõ ràng hơn.
Ngày xuất bản: 31/8/2026
Thực hiện: Hồng Vân, Thiên Lam, Thanh Huyền, Ngọc Diệp