Khi các vấn đề về biến đổi khí hậu đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, gần một nửa quốc gia trên thế giới – chiếm khoảng 80% lượng phát thải toàn cầu – đã cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào giữa thế kỷ này. Là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, Việt Nam không đứng ngoài cuộc.

Trên hành trình hội nhập và khẳng định vai trò trong trật tự khí hậu toàn cầu, Việt Nam đã từng bước tham gia các công ước và khung pháp lý quốc tế, đưa ra những cam kết mạnh mẽ và hiện thực hóa bằng loạt hành động cụ thể.

Hành trình hội nhập của Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu được ghi dấu bằng hàng loạt cam kết quốc tế mang tính bước ngoặt, đồng thời tạo nền tảng pháp lý, chính trị vững chắc cho các chính sách khí hậu trong nước.

Năm 1994, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozone và Nghị định thư Montreal – một văn kiện pháp lý được xây dựng trong khuôn khổ của Công ước Vienna. Trong đó, Nghị định thư Montreal là cơ chế ràng buộc quốc tế đầu tiên quy định các biện pháp cụ thể nhằm kiểm soát và loại bỏ các chất làm suy giảm tầng ozone, như CFC, Halon và HCFC – nhóm khí nhà kính có khả năng gây hiệu ứng nhà kính mạnh gấp hàng nghìn lần so với CO₂.

Thông qua việc tham gia Nghị định thư Montreal và các bản sửa đổi sau đó, Việt Nam cam kết thực hiện lộ trình loại trừ dần các chất này phù hợp với mục tiêu toàn cầu, bao gồm cả việc cắt giảm 80% lượng tiêu thụ HFC vào năm 2045.

Cũng trong năm 1994, Việt Nam phê chuẩn Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC). Đây được coi là nền tảng cho toàn bộ tiến trình thương lượng khí hậu toàn cầu. Công ước đề ra nguyên tắc “trách nhiệm chung nhưng có phân biệt”, một quan điểm mà Việt Nam luôn nhất quán trong các cuộc đàm phán quốc tế. Theo đó, UNFCCC yêu cầu các nước phát triển đi đầu trong việc cắt giảm phát thải và hỗ trợ tài chính, công nghệ cho các nước đang phát triển thông qua các cơ chế như Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) và sau này là CDM thuộc Nghị định thư Kyoto.

Ô nhiễm không khí là một trong những vấn đề toàn cầu. (Ảnh: TTXVN)

Ô nhiễm không khí là một trong những vấn đề toàn cầu. (Ảnh: TTXVN)

Năm 2002, Việt Nam tiếp tục thể hiện vai trò chủ động khi phê chuẩn Nghị định thư Kyoto - văn kiện đầu tiên mang tính ràng buộc pháp lý về giảm phát thải khí nhà kính. Dù không có nghĩa vụ cắt giảm do là nước đang phát triển, Việt Nam vẫn tham gia các cơ chế linh hoạt như Cơ chế phát triển sạch (CDM), qua đó thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển.

Năm 2016, Việt Nam chính thức phê chuẩn Thỏa thuận Paris - một hiệp ước khí hậu mang tính toàn cầu, yêu cầu tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ phát triển, cùng đóng góp vào mục tiêu giới hạn nhiệt độ toàn cầu dưới 2 độ C, và cố gắng ở mức 1,5 độ C. Lần đầu tiên, Việt Nam xây dựng và đệ trình Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), đặt ra các mục tiêu cụ thể về giảm phát thải và thích ứng.

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà từng nhấn mạnh, con đường để đạt được các mục tiêu đề ra theo Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu rất chông gai, đòi hỏi trí tuệ, tinh thần hợp tác và tình đoàn kết cao. Phó Thủ tướng khẳng định, các nước cần đề ra một lộ trình giảm phát thải hết sức bài bản, thực tế, không phải bằng mọi giá vì còn cần tính đến các vấn đề kinh tế-xã hội.

Tại Hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) năm 2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính đưa ra một cam kết mang tính lịch sử: Việt Nam sẽ đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Thủ tướng nhấn mạnh: “Mặc dù là nước đang phát triển mới chỉ bắt đầu công nghiệp hóa trong hơn ba thập kỷ, Việt Nam sẽ xây dựng và triển khai các biện pháp giảm phát thải mạnh mẽ bằng nguồn lực của mình, cùng với sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, nhất là các nước phát triển”.

Việt Nam sẽ đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

“Ứng phó với biến đổi khí hậu, phục hồi tự nhiên phải trở thành ưu tiên cao nhất trong mọi quyết sách phát triển, là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của mọi cấp, mọi ngành, mọi doanh nghiệp và mọi người dân”, Thủ tướng khẳng định.

Cùng với cam kết Net Zero, Việt Nam cũng tham gia nhiều sáng kiến khí hậu toàn cầu như Tuyên bố Glasgow về rừng và sử dụng đất, Cam kết giảm 30% phát thải methane đến năm 2030, và Liên minh hành động thích ứng toàn cầu.

Năm 2022, tại COP27, Việt Nam và Nhóm Đối tác quốc tế (IPG) đã công bố Tuyên bố chính trị thiết lập Quan hệ Đối tác về chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP), với tổng gói hỗ trợ tài chính cam kết lên tới 15,5 tỷ USD. Đây là khuôn khổ hợp tác toàn diện đầu tiên giữa Việt Nam và các nước phát triển, hướng đến việc chuyển đổi từ điện than sang năng lượng sạch một cách công bằng.

Tiến trình cam kết khí hậu của Việt Nam không dừng lại ở việc "tham gia", mà ngày càng thể hiện tinh thần chủ động, hợp tác và đồng hành cùng cộng đồng quốc tế trong hành động - từ đàm phán, thực thi, đến đổi mới chính sách trong nước.

Sau khi từng bước khẳng định vị thế qua việc tham gia đóng góp cho các hiệp định khí hậu quốc tế, Việt Nam đã chuyển mạnh từ cam kết sang hành động, cụ thể hóa bằng hệ thống chính sách và pháp luật trong nước.

Một trong những dấu mốc đầu tiên là Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây là chương trình tổng thể đầu tiên của Việt Nam về khí hậu, đặt nền tảng cho chính sách tăng trưởng xanh, với mục tiêu xây dựng khung hành động dài hạn nhằm bảo đảm phát triển bền vững, an ninh sinh thái và sinh kế người dân.

Ngay sau khi phê chuẩn Thỏa thuận Paris vào năm 2016, Việt Nam khẩn trương nội luật hóa các cam kết khí hậu vào hệ thống pháp luật. Bước chuyển lớn nhất là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, lần đầu tiên bao gồm các khái niệm “phát thải khí nhà kính”, “kiểm kê khí nhà kính”, “NDC” và “trung hòa carbon”. Luật này cũng thiết lập hệ thống MRV (đo đạc-báo cáo-thẩm định) theo chuẩn mực quốc tế, tạo khung pháp lý cho việc quản lý phát thải và thích ứng.

Các tình nguyện viên nhóm Biên Hoà Xanh tham gia dọn rác thải tại rạch Cầu Sắc, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. (Ảnh: TTXVN)

Các tình nguyện viên nhóm Biên Hoà Xanh tham gia dọn rác thải tại rạch Cầu Sắc, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. (Ảnh: TTXVN)

Hàng loạt văn bản đã được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020:

  • Nghị định số 06/2022/NĐ-CP: Quy định lộ trình giảm nhẹ phát thải đến năm 2030; phân công trách nhiệm cho các bộ, ngành; và thiết lập cơ chế phối hợp thực hiện NDC.
  • Thông tư 01/2022/TT-BTNMT và Thông tư 17/2022/TT-BTNMT: Hướng dẫn đánh giá tác động khí hậu, xây dựng báo cáo khí hậu quốc gia và kiểm kê phát thải theo ngành.
  • Quyết định số 888/QĐ-TTg (2022): Phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, nhấn mạnh mục tiêu Net Zero là “mệnh lệnh chính trị” và là động lực phát triển bền vững.
  • Quyết định số 896/QĐ-TTg (2022): Phê duyệt Chương trình hành động quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050. Văn bản này đề ra các mục tiêu tổng thể và cụ thể, bao gồm xây dựng kịch bản nước biển dâng, tích hợp khí hậu vào quy hoạch phát triển, và huy động đa dạng nguồn lực trong nước và quốc tế. Kinh phí giai đoạn 2009-2015 ước tính gần 2.000 tỷ đồng.
  • Nghị định số 119/2025/NĐ-CP: Cập nhật và cụ thể hóa các quy định liên quan đến giảm phát thải khí nhà kính, phát triển thị trường carbon và bảo vệ tầng ozone, phù hợp với các cam kết mới của Việt Nam.

Cùng với việc thiết lập nền tảng pháp lý, Việt Nam đã tiến hành phân vùng trách nhiệm giảm phát thải cho 6 lĩnh vực trọng điểm: năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp, quản lý chất thải và sử dụng đất, rừng. Kế hoạch hành động của từng bộ ngành đã được xây dựng chi tiết, với các chỉ tiêu giảm phát thải cụ thể theo từng giai đoạn.

Việt Nam cũng đã thành lập Ban Thư ký JETP và xây dựng trang thông tin chính thức tại jetp.moit.gov.vn nhằm cập nhật tiến độ và bảo đảm tính minh bạch, sau khi cùng nhóm Đối tác quốc tế (IPG) công bố Tuyên bố chính trị thiết lập Quan hệ Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP). Với tổng hỗ trợ tài chính lên tới 15,5 tỷ USD, đây là cam kết khí hậu lớn nhất của Việt Nam cho đến nay.

Cùng với các nỗ lực huy động tài chính khí hậu, Việt Nam cũng bắt đầu triển khai cơ chế thị trường phát thải. Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn thí điểm hệ thống giao dịch phát thải hệ thống giao dịch phát thải ETS, áp dụng trước cho 3 ngành phát thải lớn: thép, xi măng và nhiệt điện. Đến cuối năm 2025, các hạn ngạch cho giai đoạn 2025-2026 sẽ được phát hành.

Các bên liên quan khi xây dựng thị trường tín chỉ carbon ETS. (Nguồn: World Bank Group)

Các bên liên quan khi xây dựng thị trường tín chỉ carbon ETS. (Nguồn: World Bank Group)

Các doanh nghiệp sẽ được cấp hạn ngạch phát thải CO₂; nếu vượt mức, họ phải mua tín chỉ carbon, nếu tiết kiệm được thì có thể bán ra thị trường. ETS không chỉ tạo áp lực kinh tế thúc đẩy chuyển đổi công nghệ (thu hồi nhiệt, số hóa, thay đổi nhiên liệu…), mà còn mở ra cơ hội xây dựng thị trường tín chỉ carbon nội địa và hướng tới kết nối quốc tế.

Trên nền tảng đó, Việt Nam cũng đang chuẩn bị cho bước đi tiếp theo: kết nối thị trường carbon trong nước với thị trường quốc tế, theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris. Cơ chế này cho phép chuyển nhượng quốc tế các kết quả giảm phát thải (ITMOs), giúp các quốc gia cùng đạt mục tiêu NDC hiệu quả và ít tốn kém hơn. Theo đó, Việt Nam đang có cơ hội lớn để thúc đẩy kết nối thị trường carbon trong khu vực và toàn cầu. Thị trường carbon cho phép các quốc gia và doanh nghiệp mua bán tín chỉ carbon, thúc đẩy các dự án giảm phát thải và khuyến khích đầu tư vào công nghệ xanh.

Điều 6.2 của Thỏa thuận Paris khuyến khích các quốc gia sử dụng hệ thống giao dịch tín chỉ giảm phát thải xuyên biên giới để giảm thiểu khí thải.
Điều 6.4 tạo cơ chế bù trừ bằng các dự án giảm phát tại các quốc gia khác, cho phép chia sẻ tín chỉ carbon từ các dự án này để hỗ trợ các quốc gia đạt mục tiêu đóng góp quốc gia tự quyết (NDC) của mình.

Việt Nam đang từng bước chuyển từ hoạch định chính sách sang triển khai thực tiễn trên nhiều lĩnh vực, trong đó nổi bật là ngành năng lượng – một trong những lĩnh vực phát thải lớn nhất.

Trên nền tảng các định hướng chiến lược như Nghị quyết 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển năng lượng quốc gia và các quy hoạch tổng thể năng lượng, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh năm 2025 đã được xây dựng với trọng tâm là giảm dần điện than, ưu tiên năng lượng tái tạo như gió, mặt trời, sinh khối và thủy triều. Đây được coi là đòn bẩy để thúc đẩy dịch chuyển hệ thống năng lượng quốc gia khỏi sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.

Trong thực tế, Việt Nam đã tận dụng hiệu quả lợi thế tự nhiên để phát triển năng lượng tái tạo. Tính đến năm 2022, tỷ trọng điện mặt trời đã đạt 21% và điện gió 5% trong cơ cấu điện quốc gia - mức tăng trưởng vượt bậc so với gần như con số 0 vào năm 2018.

Chỉ trong vòng một năm từ năm 2018-2019, theo số liệu của Hiệp hội năng lượng Việt Nam, hơn 330 dự án điện mặt trời được trình phê duyệt, và đến cuối tháng 8/2021, đã có 24 nhà máy điện gió đi vào vận hành với tổng công suất gần 1.000 MW.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, Việt Nam đặt mục tiêu đạt 6.000 MW điện gió ngoài khơi vào năm 2030 và 17.500 MW vào năm 2035 - một con số đầy tham vọng nhưng hoàn toàn khả thi nếu có sự hỗ trợ phù hợp.

Lĩnh vực sử dụng đất và rừng cũng ghi nhận những bước tiến quan trọng. Chính phủ đã phê duyệt chương trình trồng mới 20.000ha rừng ngập mặn giai đoạn 2021-2025, đồng thời triển khai thí điểm các đề án trao đổi tín chỉ carbon rừng tại một số địa phương, theo Quyết định 1662/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030”. Đây là động thái tích cực nhằm tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính, và củng cố khả năng chống chịu của hệ sinh thái ven biển trước biến đổi khí hậu.

Đồng thời, các địa phương trong cả nước đã tích cực triển khai các nội dung của NDC (Đóng góp do quốc gia tự quyết định), đặc biệt sau bản cập nhật năm 2022 với mục tiêu giảm tới 43,5% phát thải khí nhà kính vào năm 2030 nếu có hỗ trợ quốc tế, tăng đáng kể so với mức 27% tại NDC năm 2020. Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức, kiểm kê khí nhà kính, lồng ghép nội dung khí hậu vào quy hoạch phát triển địa phương cũng đang diễn ra trên diện rộng, tạo nền tảng cho sự chuyển đổi sâu rộng trong toàn xã hội.

Khu vực tài chính-ngân hàng cũng bắt đầu tham gia tích cực trong việc hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh. Cuối năm 2024, Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Cơ quan Phát triển Pháp tại Việt Nam (AFD Việt Nam) đã ký kết Hạn mức tín dụng khí hậu trị giá 50 triệu EUR (tương đương hơn 58 triệu USD), tài trợ các dự án giảm phát thải và tăng trưởng xanh. Đây là bước tiếp nối thành công của SUNREF – hạn mức tín dụng xanh 100 triệu USD đã được triển khai năm 2021.

Hạn mức tín dụng khí hậu 50 triệu EUR lần này sẽ tiếp tục cung cấp cho BIDV nguồn vốn dài hạn tài trợ lĩnh vực tăng trưởng xanh vì mục tiêu phát triển bền vững, hướng tới mục tiêu trở thành Ngân hàng phát thải ròng bằng “0” (Net zero bank) vào năm 2045.

*****

Tổ hợp năng lượng tái tạo Trung Nam tại huyện Thuận Bắc (Ninh Thuận). (Ảnh: Nhân Dân)

Tổ hợp năng lượng tái tạo Trung Nam tại huyện Thuận Bắc (Ninh Thuận). (Ảnh: Nhân Dân)

Các trụ turbine nhà máy điện gió Bạc Liêu. (Ảnh: Nhân Dân)

Các trụ turbine nhà máy điện gió Bạc Liêu. (Ảnh: Nhân Dân)

Công nhân Công ty Truyền tải điện 3 phối hợp quản lý, vận hành hệ thống điện mặt trời tại Lâm Đồng. (Ảnh: Nhân Dân)

Công nhân Công ty Truyền tải điện 3 phối hợp quản lý, vận hành hệ thống điện mặt trời tại Lâm Đồng. (Ảnh: Nhân Dân)

Tuy nhiên, hành trình đạt Net Zero của Việt Nam vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức.

Trước hết là bài toán tài chính. Theo Báo cáo quốc gia về khí hậu và phát triển của Ngân hàng Thế giới (2022), Việt Nam cần đầu tư khoảng 368 tỷ USD đến năm 2040 để bảo đảm chuyển dịch công bằng, chống chịu khí hậu và đạt mục tiêu Net Zero. Đây là con số vượt xa khả năng huy động tài chính công hiện nay, đòi hỏi sự vào cuộc của khu vực tư nhân và hợp tác quốc tế thông qua các cơ chế như JETP, thị trường carbon và tín dụng khí hậu xanh.

Cơ sở hạ tầng truyền tải điện còn thiếu đồng bộ, năng lực công nghệ trong nước còn hạn chế, đặc biệt trong các lĩnh vực như lưu trữ năng lượng, giám sát phát thải, cảnh báo sớm thiên tai và chuyển đổi số trong quản lý môi trường.

Hệ thống pháp luật liên quan đến biến đổi khí hậu dù đã được hình thành nhưng vẫn cần hoàn thiện, đặc biệt là các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận tín dụng xanh và công nghệ carbon thấp.

Nhận thức xã hội về biến đổi khí hậu và trách nhiệm chung trong hành động vẫn chưa đồng đều. Việc truyền thông và giáo dục môi trường cần tiếp tục được tăng cường, đặc biệt ở cấp cơ sở, để mỗi người dân hiểu rằng Net Zero không chỉ là cam kết của Chính phủ, mà là một mục tiêu quốc gia đòi hỏi sự tham gia của toàn xã hội.

Hành trình Net Zero của Việt Nam đã bắt đầu bằng những bước đi vững chắc và sẽ thành công nếu được tiếp nối bằng sự quyết tâm, đồng lòng và hành động cụ thể.

Ngày xuất bản: 8/2025
Tổ chức thực hiện: NAM ĐÔNG
Nội dung: HẢI YẾN
Trình bày: THÙY LÂM
Tài liệu tham khảo: Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Thư viện Pháp luật, Tạp chí điện tử Môi trường và Cuộc sống, VGP, United Nations Climate Change, Bộ Công Thương.
Ảnh: Báo Nhân Dân, TTXVN