Cover Nghị quyết 23 - FPT Tech Style
Background
BÀI 5
KẾT NỐI Trí tuệ Việt
toàn cầu

Từ Nghị quyết đến hành động:
Để nguồn lực kiều bào được hiện thực hóa bằng những giá trị cụ thể

Ngày 2/8/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW, lần đầu tiên khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là "nguồn lực chiến lược quan trọng", góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Đây cũng là một trong những lời giải cho nhiệm vụ phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia mà Nghị quyết số 57-NQ/TW vốn được ví như "Khoán 10" trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đã đặt ra trước đó.

Theo đó, cần ban hành cơ chế đặc thù thu hút người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ cao về nước làm việc, sinh sống. Đồng thời, trọng dụng các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia, "tổng công trình sư" có khả năng tổ chức, điều hành các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Từ những câu chuyện cụ thể, những con số và góc nhìn của các chuyên gia, vệt bài “Kết nối trí tuệ Việt toàn cầu, tạo nguồn lực phát triển đất nước” đi tìm lời giải cho bài toán đánh thức nguồn lực đang hiện diện ở khắp năm châu; đồng thời nhận diện những điểm nghẽn về thể chế, cơ chế tiếp nhận, đặt hàng và trọng dụng nhân tài cần được tháo gỡ.

Bởi để hiện thực hóa khát vọng phát triển đến năm 2045, nguồn lực của đất nước không chỉ nằm trong biên giới Việt Nam. Ở bất cứ nơi nào có người Việt sinh sống, sáng tạo và thành công, ở đó có thể là một phần của sức mạnh Việt Nam.

KẾT NỐI
TRÍ TUỆ VIỆT
TOÀN CẦU

Tạo nguồn lực phát triển đất nước

Nghị quyết 23-NQ/TW xác định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nguồn lực quan trọng, có vai trò đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sau Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư ngày 3/9, yêu cầu đưa tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW vào thực tiễn đặt ra một bước chuyển mới, làm thế nào để những nguồn lực đang hiện hữu trong cộng đồng người Việt toàn cầu được tổ chức, kết nối và chuyển hóa thành những giá trị cụ thể cho đất nước.

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng mang tính xuyên quốc gia, việc phát huy nguồn lực kiều bào cũng không nhất thiết phải được đo bằng số người trở về sinh sống và làm việc lâu dài trong nước. Điều quan trọng hơn là tạo ra những cơ chế để tri thức, công nghệ, kinh nghiệm và mạng lưới của người Việt Nam ở bất cứ đâu cũng có thể kết nối thường xuyên với những nhu cầu phát triển trong nước.

Từ hồi hương nhân tài đến kết nối năng lực toàn cầu

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải, Đại học Quốc gia Singapore, câu hỏi đặt ra không phải là buộc người Việt Nam ở nước ngoài phải lựa chọn giữa sự nghiệp quốc tế và đóng góp cho quê hương, mà là xây dựng những cơ chế để hai quá trình này có thể hỗ trợ lẫn nhau.

Từ góc nhìn đó, cộng đồng chuyên gia Việt Nam trên toàn cầu có thể được xem như một dạng năng lực quốc gia phân tán. Một chuyên gia không chỉ mang đến năng lực chuyên môn của cá nhân, mà còn có thể mở ra mạng lưới nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và đối tác quốc tế.

Một nhà khoa học có thể tham gia nghiên cứu, đào tạo, đồng hướng dẫn và chuyển giao công nghệ; một chuyên gia công nghệ có thể kết nối Việt Nam với những hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; một doanh nhân có thể mở rộng thị trường, đối tác; một nhà đầu tư có thể mang đến nguồn vốn và kinh nghiệm quản trị. Vì vậy, khi kết nối một chuyên gia kiều bào, cần nhìn cả những mạng lưới mà người đó có thể kết nối với Việt Nam.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải, thay vì chỉ đặt câu hỏi làm thế nào để người tài trở về, Việt Nam cần đặt câu hỏi làm thế nào để người Việt Nam ở bất cứ đâu cũng có thể trở thành một phần của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Điều này cũng đặt ra yêu cầu về một môi trường đủ tin cậy để những đóng góp có thể được duy trì lâu dài. Bên cạnh các chính sách hỗ trợ, chuyên gia, nhà khoa học và doanh nhân cần một cơ chế rõ ràng về đầu mối phối hợp, trách nhiệm, thủ tục và cách thức triển khai. Niềm tin, theo cách tiếp cận này, không chỉ là yếu tố tinh thần mà còn là một phần của năng lực thực thi chính sách.

Thay vì chỉ đặt câu hỏi làm thế nào để người tài trở về, Việt Nam cần đặt câu hỏi làm thế nào để người Việt Nam ở bất cứ đâu cũng có thể trở thành một phần của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải

Một thí dụ cho cách tiếp cận từ kết nối nguồn lực đến tạo ra sản phẩm cụ thể là V-S.T.I.D do Hiệp hội Chuyển đổi số Việt Nam tại Nhật Bản xây dựng. Đây không chỉ là một cơ sở dữ liệu chuyên gia đơn thuần, mà được kỳ vọng trở thành hạ tầng số kết nối thực chất giữa mạng lưới trí thức kiều bào với các bài toán phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong nước theo tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW, xây dựng, kết nối và phát triển mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế.

Ngày 30/5/2025, tại Tokyo, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng tham dự và phát biểu chỉ đạo tại VADX Innovation Day 2025. Một ngày sau, tại buổi gặp gỡ đại diện các nhà khoa học, chuyên gia và trí thức Việt Nam tiêu biểu tại Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản, Phó Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng một cơ sở dữ liệu số hoàn chỉnh để quy tụ, phân loại và kết nối hiệu quả nguồn lực chất xám kiều bào với nhu cầu trong nước.

Tiến sĩ Đỗ Văn Khắc - Chủ tịch VADX Japan, Tổng Giám đốc FPT Japan.

Tiến sĩ Đỗ Văn Khắc - Chủ tịch VADX Japan, Tổng Giám đốc FPT Japan.

Tiến sĩ Đỗ Văn Khắc - Chủ tịch VADX Japan, Tổng Giám đốc FPT Japan.

Tiến sĩ Đỗ Văn Khắc - Chủ tịch VADX Japan, Tổng Giám đốc FPT Japan.

Ông Đỗ Văn Khắc, Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi số Việt Nam tại Nhật Bản, Tổng Giám đốc FPT Japan Holdings, Tập đoàn FPT đã thay mặt cộng đồng doanh nghiệp tiếp nhận đề bài này. Theo tư liệu của Hiệp hội Chuyển đổi số Việt Nam tại Nhật Bản, đây không phải một dự án thương mại, mà là nhiệm vụ cộng đồng và trách nhiệm đóng góp của các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tại Nhật Bản.

Ngay sau đó, Hiệp hội Chuyển đổi số Việt Nam tại Nhật Bản huy động các doanh nghiệp thành viên thành lập ban dự án chuyên trách. FPT giữ vai trò quản lý, điều phối và kiến trúc hệ sinh thái; các doanh nghiệp thành viên đóng góp đội ngũ kỹ sư, năng lực chuyên môn và tư vấn định hướng sản phẩm. Từ một đề bài được đặt ra, các doanh nghiệp cùng triển khai một sản phẩm chung. Khoảng 6 tháng sau, V-S.T.I.D được hoàn thiện và đưa vào vận hành thử nghiệm.

Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu; Chủ tịch Hội đồng Sáng lập Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA), Chủ tịch Tập đoàn FPT Trương Gia Bình cùng các doanh nghiệp CNTT ấn nút ra mắt Hiệp hội chuyển đổi số Việt Nam-Nhật Bản. (Ảnh: LÊ LÂM)

Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu; Chủ tịch Hội đồng Sáng lập Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA), Chủ tịch Tập đoàn FPT Trương Gia Bình cùng các doanh nghiệp CNTT ấn nút ra mắt Hiệp hội chuyển đổi số Việt Nam-Nhật Bản. (Ảnh: LÊ LÂM)

Điểm đáng chú ý của nền tảng này không chỉ nằm ở việc số hóa hồ sơ chuyên gia, mà ở cách tổ chức kết nối. V-S.T.I.D được thiết kế để hỗ trợ tìm kiếm theo ngữ nghĩa, kết nối nhu cầu giải quyết các bài toán của cơ quan, tổ chức trong nước với chuyên môn của từng chuyên gia.

Đặc biệt, đội ngũ phát triển đã ứng dụng các công nghệ trí tuệ nhân tạo tiên tiến nhất để giải quyết bài toán cốt lõi: tự động bóc tách dữ liệu hồ sơ khoa học, tìm kiếm ngữ nghĩa thông minh và tự động ghép nối chính xác nhu cầu giải quyết bài toán của các địa phương, bộ, ngành với chuyên môn sâu của từng chuyên gia. Theo tư liệu Hiệp hội Chuyển đổi số Việt Nam tại Nhật Bản cung cấp, đến nay V-S.T.I.D đã có hồ sơ của hơn 60 nhà khoa học, chuyên gia người Việt đang nghiên cứu, làm việc tại các trường đại học và tập đoàn công nghệ tại Nhật Bản, cùng thông tin của hơn 25 doanh nghiệp, trường học, tổ chức.

Đến nay V-S.T.I.D đã có hồ sơ của hơn 60 nhà khoa học, chuyên gia người Việt đang nghiên cứu, làm việc tại các trường đại học và tập đoàn công nghệ tại Nhật Bản, cùng thông tin của hơn 25 doanh nghiệp, trường học, tổ chức.

Theo ông Khắc, thông qua các chức năng như hồ sơ chuyên gia, diễn đàn chuyên môn, thông tin tổ chức và sự kiện, V-S.T.I.D có thể trở thành hạ tầng số giúp các bộ, địa phương và doanh nghiệp trong nước tìm đúng chuyên gia, đúng tổ chức và đúng kinh nghiệm cần thiết cho các bài toán khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trước mắt, V-S.T.I.D tập trung xây dựng mạng lưới vững chắc trong cộng đồng trí thức Việt Nam tại Nhật Bản. Trong các giai đoạn tiếp theo, nền tảng sẽ mở rộng quy mô kết nối đến mạng lưới chuyên gia toàn cầu tại Mỹ, châu Âu và các trung tâm công nghệ quốc tế, đồng thời tăng cường kết nối dữ liệu liên thông với các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp lớn trong nước.

V-S.T.I.D được kỳ vọng không dừng lại ở một trang tin hay một danh bạ tĩnh, mà sẽ trở thành hạ tầng số kết nối tri thức của quốc gia. Thông qua hạ tầng này, Việt Nam sẽ nhanh chóng tìm đúng chuyên gia, đúng tổ chức và đúng kinh nghiệm thực tiễn để giải quyết các bài toán chiến lược về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.

Từ một đề bài cụ thể đến một sản phẩm được xây dựng và đưa vào vận hành thử nghiệm, câu chuyện V-S.T.I.D cho thấy một hướng tiếp cận khác đối với nguồn lực kiều bào: không chỉ kêu gọi đóng góp, mà cần có hạ tầng và cách thức để xác định đất nước đang cần gì, ai có năng lực phù hợp và hai phía có thể cùng giải quyết vấn đề như thế nào.

Cách tiếp cận này cũng phù hợp với chuyển biến trong tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài mà ông Nguyễn Trung Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, nhấn mạnh trong thời gian gần đây. Theo ông, cộng đồng người Việt toàn cầu cần được đặt vào vị trí chủ thể, cùng tham gia giải quyết các bài toán phát triển quốc gia. Từ đó, công tác người Việt Nam ở nước ngoài cần có những chuyển đổi cốt lõi: “Từ ‘kết nối’ sang ‘đồng kiến tạo’, từ ‘vận động’ sang ‘thể chế hóa nguồn lực’, từ ‘bảo tồn’ sang ‘lan tỏa giá trị Việt’”.

Ông Nguyễn Trung Kiên đồng thời nhấn mạnh phương châm “Đồng hành - Đồng kiến tạo - Kết nối”, trong đó công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, gắn kết với các chương trình mục tiêu quốc gia để khơi thông và lồng ghép nguồn lực của kiều bào vào tiến trình phát triển đồng bộ.

Như vậy, từ một nền tảng công nghệ như V-S.T.I.D đến cách tiếp cận mới về chính sách, điểm chung không còn là việc tập hợp một danh sách người Việt có năng lực ở nước ngoài, mà là tạo ra cơ chế để nguồn lực ấy tham gia vào những bài toán cụ thể của đất nước.

Và nền tảng công nghệ V-S.T.I.D do Hiệp hội Chuyển đổi số Việt Nam tại Nhật Bản khởi phát, biết đâu sẽ chính là "xương sống" cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới người Việt Nam toàn cầu như chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9 vừa qua.

Nguyễn Trung Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.

Nguyễn Trung Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. (Ảnh: Markus Toyfl/VGP)

Nguyễn Trung Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.

Nguyễn Trung Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. (Ảnh: Markus Toyfl/VGP)

Từ những đề bài cụ thể đến sản phẩm cụ thể

Một minh chứng rõ nét cho yêu cầu đưa tinh thần Nghị quyết 23-NQ/TW vào thực tiễn là các cuộc gặp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với cộng đồng và các chuyên gia, trí thức người Việt Nam tại Pháp ngày 11/9.

Tại cuộc gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Pháp ở Paris, Đại sứ Việt Nam tại Pháp Trịnh Đức Hải nhấn mạnh mong muốn phát huy mạnh mẽ hơn nữa nguồn lực của cộng đồng, nhất là nguồn lực trí tuệ; để các nhà khoa học, chuyên gia người Việt tại Pháp tham gia ngày càng sâu vào các chương trình hợp tác với Việt Nam trong những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử, không gian, công nghệ sinh học, năng lượng và chuyển đổi xanh; các doanh nhân trở thành cầu nối về đầu tư, thương mại và công nghệ.

Chiều cùng ngày, trong cuộc tiếp một số chuyên gia công nghệ người Việt Nam tại Pháp, những mong muốn ấy được cụ thể hóa bằng các đề xuất chuyên môn. Các chuyên gia gợi mở các định hướng liên quan đến điện hạt nhân, trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, hàng không vũ trụ.

Đại sứ Việt Nam tại Pháp Trịnh Đức Hải.

Đại sứ Việt Nam tại Pháp Trịnh Đức Hải.

Đồng thời đề xuất hợp tác đào tạo đội ngũ kỹ sư đầu ngành, xây dựng hệ thống phân tích dữ liệu quốc gia, kết nối các cơ sở dữ liệu Nhà nước đang nằm rải rác tại nhiều cơ quan, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong thiết kế kỹ thuật hàng không và xây dựng trung tâm quang điện tử tại Việt Nam.

Mong muốn phát huy mạnh mẽ hơn nữa nguồn lực của cộng đồng, nhất là nguồn lực trí tuệ.

Các chuyên gia đồng thời mong muốn được Đảng, Nhà nước tạo điều kiện hơn nữa để người Việt Nam có chuyên môn tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển đất nước, nhất là trong những ngành, lĩnh vực Việt Nam ưu tiên.

Lắng nghe những đề xuất đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Việt Nam có một nguồn lực đặc biệt quý báu là đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia, trí thức người Việt Nam đang làm việc tại các trung tâm khoa học, công nghệ hàng đầu thế giới, trong đó có Pháp. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đây là “nguồn lực trí tuệ quốc gia” và là cầu nối giúp đất nước tiếp cận tri thức, công nghệ và mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu.

Nhưng điều quan trọng là phải biến nguồn lực ấy thành những đóng góp cụ thể; chuyển từ kêu gọi chung sang giao bài toán cụ thể, từ gặp gỡ theo dịp sang hợp tác thường xuyên, từ đóng góp ý kiến sang cùng tổ chức thực hiện, từ cam kết sang những sản phẩm có thể kiểm chứng được.

Với các chuyên gia, những đóng góp có thể bắt đầu từ những việc thiết thực như thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, hướng dẫn cán bộ trẻ

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu các bộ, ngành, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong nước phải chủ động đặt hàng, xác định rõ cần giải quyết vấn đề gì, thiếu công nghệ nào, cần chuyên gia ở lĩnh vực nào, cơ quan nào tiếp nhận và sản phẩm cuối cùng là gì. Xác định đúng bài toán cụ thể là tiền đề để tìm đúng người, giao đúng việc và phát huy đúng năng lực.

Với các chuyên gia, những đóng góp có thể bắt đầu từ những việc thiết thực như thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, hướng dẫn cán bộ trẻ, xây dựng chương trình đào tạo, kết nối cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp Pháp với đối tác Việt Nam, chuyển giao và từng bước làm chủ công nghệ; không nhất thiết bắt đầu bằng những việc quá lớn, quan trọng là tạo ra kết quả cụ thể.

Tại cuộc tiếp các chuyên gia công nghệ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng môi trường làm việc thuận lợi, minh bạch, hiệu quả; tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục, tài chính, sử dụng chuyên gia và tổ chức nghiên cứu, tạo điều kiện để các nhà khoa học tham gia công việc của đất nước một cách linh hoạt, thực chất và lâu dài.

2aoboqa8hlre8g6swpvhosjnsel3blgtufnw2iaq.jpg

Cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore cùng đông đảo bà con kiều bào, chuyên gia, trí thức Việt Nam sinh sống, học tập và làm việc tại Singapore tham dự cuộc gặp gỡ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân.

Cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore cùng đông đảo bà con kiều bào, chuyên gia, trí thức Việt Nam sinh sống, học tập và làm việc tại Singapore tham dự cuộc gặp gỡ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân.

Những thông điệp từ Paris cho thấy tinh thần Nghị quyết 23-NQ/TW đang được đặt vào một yêu cầu cụ thể hơn: không chỉ tập hợp nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài, mà phải tạo cơ chế để nguồn lực ấy được kết nối và phát huy hiệu quả trong những nhu cầu phát triển cụ thể của đất nước.

Từ góc độ này, “đúng bài toán” không chỉ là yêu cầu đối với cơ quan trong nước khi tìm kiếm chuyên gia, mà còn là điều kiện để nguồn lực kiều bào có thể được huy động một cách hiệu quả. Khi nhu cầu được xác định rõ, chuyên gia có thể xác định được phần việc phù hợp; khi đầu mối và trách nhiệm rõ ràng, một kết nối có thể tiếp tục thành một quá trình hợp tác.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các chuyên gia công nghệ người Việt Nam tại Pháp (11/9/2026). (Ảnh: TTXVN)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp các chuyên gia công nghệ người Việt Nam tại Pháp (11/9/2026). (Ảnh: TTXVN)

Kinh nghiệm của Tiến sĩ Đào Thị Thu Thủy, Chánh văn phòng AVSE Global (Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu), cho thấy việc xác định đúng bài toán cũng là cách để mạng lưới trí thức ở nước ngoài tham gia sâu hơn vào quá trình hoạch định và thực hiện chính sách. Từ thực tiễn hoạt động của AVSE Global, chị cho biết các chuyên gia kết nối bền vững với Việt Nam khi được mời tham gia giải quyết những vấn đề cụ thể như chuyển đổi số, quy hoạch tích hợp, chính sách tăng trưởng hay phát triển đường sắt tốc độ cao, thay vì những lời kêu gọi đóng góp chung chung.

AVSE Global không chờ chuyên gia tự tìm đến Việt Nam, mà chủ động kết nối những nhiệm vụ cụ thể từ Chính phủ, các bộ, ngành với mạng lưới chuyên gia.

Tiến sĩ Đào Thị Thu Thủy

Theo Tiến sĩ Đào Thị Thu Thủy, AVSE Global luôn tập trung vào tập hợp chuyên gia, trí thức dựa trên bài toán. Các diễn đàn, hội nghị như AMES 2026, tổ chức vào tháng 7/2026 với sự tham gia của một nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel năm 2013, cùng các nhóm chuyên gia trong 10 lĩnh vực then chốt, được tổ chức theo hướng tạo những không gian để chuyên gia tham gia vào các vấn đề cụ thể.

Mỗi nhóm chuyên gia được xây dựng như một “cửa vào” để các chuyên gia có thể tham gia theo đúng lĩnh vực chuyên môn. AVSE Global đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia theo các lĩnh vực như tài chính, công nghệ, y tế, giáo dục và quản trị công; kết nối với các mạng lưới quốc tế và cơ quan Chính phủ tại các nước sở tại của các chuyên gia bao gồm Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, các ngân hàng trung ương và các tập đoàn đa quốc gia.

Điểm quan trọng, theo bà Thủy, AVSE Global không chờ chuyên gia tự tìm đến Việt Nam, mà chủ động kết nối những nhiệm vụ cụ thể từ Chính phủ, các bộ, ngành với mạng lưới chuyên gia. Bởi vậy, vai trò của tổ chức không chỉ là cầu nối giữa người với người, mà còn là “cầu nối thể chế”, chuyển tri thức và kinh nghiệm quốc tế thành những sản phẩm có thể sử dụng trong quá trình hoạch định chính sách, như báo cáo, khuyến nghị gửi cơ quan có thẩm quyền.

Cách làm này được triển khai trên nhiều hướng, từ diễn đàn và hội nghị, đào tạo cấp cao, tư vấn chiến lược, kết nối nguồn lực đến nghiên cứu và phát triển. Trong đó, Diễn đàn VGL được tổ chức thường xuyên tại Paris, dự kiến năm 2026 quy tụ nhóm 100 người Việt Nam hoặc người gốc Việt có ảnh hưởng trên toàn cầu, cùng các nhà lãnh đạo, chuyên gia, doanh nhân, nhà hoạch định chính sách và trí thức đến từ hơn 30 quốc gia, các tổ chức quốc tế, cơ quan truyền thông và đối tác chiến lược trong các lĩnh vực kinh tế, công nghệ, đầu tư và phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, sáng kiến One Global Vietnam được triển khai từ năm 2021 nhằm lập bản đồ nguồn lực người Việt toàn cầu, với cách tiếp cận 3C: Competence, Challenge và Co-creation, tức năng lực, bài toán và đồng sáng tạo. Nền tảng VSpace cũng được xây dựng theo hướng kết nối người cố vấn và người được cố vấn trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Từ những đề xuất tại Pháp đến kinh nghiệm của AVSE Global có thể thấy một vấn đề xuyên suốt: muốn huy động được nguồn lực kiều bào, trước hết phải xác định rõ đất nước đang cần gì và tạo ra một “địa chỉ” đủ rõ để chuyên gia biết mình có thể tham gia ở đâu, bằng cách nào và sản phẩm cuối cùng là gì.

Để mạng lưới kiều bào trở thành năng lực phát triển

Từ góc nhìn của cộng đồng người Việt tại Australia, bà Trần Thị Tuyết Hồng (Hong Jackson), Chủ tịch Chi Hội Tây Úc – Hội Trí thức và Chuyên gia Việt-Úc, cho rằng tinh thần “đồng hành” trước hết có thể bắt đầu ngay trong chính cộng đồng.

Theo bà, cộng đồng người Việt tại Tây Úc có thể chuyển từ cách hỗ trợ thụ động sang nâng năng lực cho nhau thông qua các chương trình chia sẻ tri thức và kinh nghiệm thực tế. Những hội thảo về thuế, pháp lý, việc làm, sức khỏe, hội nhập; thư viện tri thức, bộ tài liệu hướng dẫn hay các nhóm hỗ trợ người mới sang Australia giúp mỗi cá nhân chủ động hơn trong cuộc sống, đồng thời tạo nên một cộng đồng có năng lực và khả năng hỗ trợ lẫn nhau.

Cộng đồng cũng có thể kết nối trí thức, chuyên gia và doanh nghiệp để hình thành những mạng lưới hỗ trợ hiệu quả. Khi trong nước có nhu cầu cụ thể, cộng đồng tại Tây Úc có thể làm đầu mối tiếp nhận thông tin, phân nhóm chuyên môn và tìm người phù hợp.

Từ kinh nghiệm chuẩn bị hội thảo nông nghiệp dự kiến tổ chức tại Đại học Murdoch, bà Hồng cho rằng kết nối trí thức, chuyên gia chỉ thực chất khi mục tiêu được xác định rõ. Chuyên gia được mời cần phù hợp với chủ đề và có kinh nghiệm thực tế, thay vì kết nối dàn trải.

Bà Trần Thị Tuyết Hồng (Hong Jackson), Chủ tịch Chi Hội Tây Úc – Hội Trí thức và Chuyên gia Việt-Úc (VASEA).

Bà Trần Thị Tuyết Hồng (Hong Jackson), Chủ tịch Chi Hội Tây Úc – Hội Trí thức và Chuyên gia Việt-Úc (VASEA).

Theo bà, để một ý tưởng có thể đi đến một dự án cụ thể, trước hết cần xác định rõ mục tiêu, đối tượng hưởng lợi và kết quả mong đợi. Khi bài toán được định nghĩa rõ, các bên mới có thể đánh giá tính khả thi và xác định nguồn lực cần thiết.

Để một ý tưởng có thể đi đến một dự án cụ thể, trước hết cần xác định rõ mục tiêu, đối tượng hưởng lợi và kết quả mong đợi.

Tiếp đó cần một nhóm điều phối chung giữa cộng đồng ở nước ngoài và đơn vị trong nước, có đầu mối liên lạc, phân vai rõ ràng và duy trì trao đổi thường xuyên. Dự án nên được chia thành những bước nhỏ, có mốc thời gian và sản phẩm đầu ra cụ thể, thay vì bắt đầu bằng những chương trình quá lớn hoặc chung chung.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan. (Ảnh: TTXVN)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan. (Ảnh: TTXVN)

Một yếu tố khác được bà Hồng nhấn mạnh là cơ chế phản hồi hai chiều. Phía trong nước cần cập nhật nhu cầu, khó khăn và những điều chỉnh trong quá trình triển khai; cộng đồng ở nước ngoài cần phản hồi về tính khả thi, nguồn lực và cách thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế.

Khi một dự án nhỏ tạo được kết quả, mô hình có thể tiếp tục được mở rộng hoặc nhân rộng sang lĩnh vực khác. Theo cách này, một kết nối ban đầu không dừng ở việc gặp gỡ, trao đổi mà có thể trở thành một quá trình hợp tác có mục tiêu và kết quả rõ ràng.

PGS, TS Dương Minh Hải cùng các kiều bào Singapore tại cuộc gặp mặt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân.

PGS, TS Dương Minh Hải cùng các kiều bào Singapore tại cuộc gặp mặt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân.

Từ hoạt động của VASEA Tây Úc, bà Hồng cũng nhìn thấy nhiều nguồn lực khác của cộng đồng ngoài chuyên môn và tài chính. Đó là kinh nghiệm sống và nghề nghiệp tích lũy qua nhiều năm làm việc tại Australia; mạng lưới với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; tinh thần cố vấn; uy tín cá nhân trong xã hội sở tại; khả năng song ngữ và sự am hiểu hai nền văn hóa.

Nếu được tổ chức tốt, những nguồn lực này có thể tạo sức mạnh cho cả cộng đồng người Việt ở nước ngoài và các hoạt động hướng về Việt Nam. Một người có thể đóng góp bằng chuyên môn, người khác bằng kinh nghiệm, quan hệ nghề nghiệp, khả năng cố vấn hoặc mở một kết nối mới.

Tuy nhiên, để sự tham gia ấy trở thành lâu dài, theo bà Hồng, điều quan trọng là kiều bào phải cảm nhận được sự tôn trọng, lắng nghe và tin tưởng đối với đóng góp của mình. Một môi trường hợp tác minh bạch, cởi mở, trong đó mỗi người được tham gia theo đúng khả năng và nhận được phản hồi về kết quả, sẽ tạo thêm động lực để cộng đồng chủ động đồng hành.

Đoàn kiều bào thăm quân, dân huyện đảo Trường Sa và nhà giàn DK1 năm 2024.

Đoàn kiều bào thăm quân, dân huyện đảo Trường Sa và nhà giàn DK1 năm 2024.

Từ kinh nghiệm của AVSE Global, Tiến sĩ Đào Thị Thu Thủy cũng cho rằng mạng lưới kiều bào cần được tổ chức theo nhiều tầng và có nhiều điểm để tham gia, thay vì chỉ đặt trọng tâm vào một hình thức đóng góp.

Ở tầng tri thức và nghiên cứu, chuyên gia có thể tham gia các diễn đàn, nhóm công tác và xây dựng báo cáo chính sách. Ở tầng tư vấn và thể chế, có thể tham gia theo hình thức cố vấn bán thời gian hoặc dài hạn cho bộ, ngành, địa phương. Ở tầng kinh doanh và đầu tư, mạng lưới chuyên gia có thể kết nối với doanh nghiệp quốc tế, các quỹ đầu tư để tham gia những dự án cụ thể tại Việt Nam, trong đó có hệ sinh thái tài chính đổi mới sáng tạo và các quỹ đầu tư mạo hiểm. Ở một tầng khác, chuyên gia có thể trở thành “đại sứ tri thức”, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, giới thiệu thêm chuyên gia và mở kết nối với các tổ chức quốc tế.

Mạng lưới kiều bào cần được tổ chức theo nhiều tầng và có nhiều điểm.

Tiến sĩ Đào Thị Thu Thủy

Theo Tiến sĩ Đào Thị Thu Thủy, để những tầng kết nối ấy hoạt động lâu dài, điều cần thiết là một cơ chế điều phối trung tâm nhưng “nhẹ”, không kiểm soát mọi đóng góp mà tập trung bảo đảm “đúng người, đúng bài toán”. Cơ chế này cũng cần giúp duy trì tính liên tục khi một chuyên gia không thể tiếp tục tham gia, chuẩn hóa quy trình phối hợp và từng bước xây dựng niềm tin để các cơ quan trong nước có thể giao những nhiệm vụ ngày càng quan trọng hơn cho mạng lưới chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài.

Từ những mô hình đang hình thành ở Nhật Bản, những đề xuất được đặt ra tại Pháp, cách cộng đồng tại Tây Úc chủ động xây dựng năng lực và kinh nghiệm tổ chức mạng lưới của Hội Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu, có thể thấy nguồn lực kiều bào chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi có sự gặp nhau giữa nhu cầu của đất nước, năng lực của cộng đồng và một cơ chế kết nối đủ cụ thể.

Nghị quyết 23-NQ/TW vì thế không chỉ đặt ra yêu cầu tập hợp và phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài, mà còn mở ra yêu cầu xây dựng những cách thức hợp tác thực chất hơn, để mỗi đóng góp có thể tìm được đúng địa chỉ, mỗi sáng kiến có thể có cơ hội thành dự án và mỗi nguồn lực có thể được chuyển hóa thành những giá trị cụ thể cho đất nước.

Khi khoảng cách địa lý không còn là rào cản quyết định, điều quan trọng là xây dựng được những cây cầu đủ mạnh để người Việt Nam ở bất cứ đâu cũng có thể tham gia vào quá trình phát triển đất nước bằng chính năng lực, kinh nghiệm và mạng lưới của mình. Đó cũng là cách tinh thần Nghị quyết 23-NQ/TW được chuyển từ chủ trương thành hành động, từ nguồn lực tiềm năng thành những giá trị cụ thể.

Ngày xuất bản: 17/9/2026
Thực hiện: Hồng Vân, Thiên Lam, Thanh Huyền, Ngọc Diệp
Ảnh: Nhân vật cung cấp, FPT, VGP, TTXVN

Interactive Infographic Grid

Kết nối trí tuệ Việt toàn cầu, tạo nguồn lực phát triển đất nước

Vệt bài “Kết nối trí tuệ Việt toàn cầu, tạo nguồn lực phát triển đất nước” đi tìm lời giải cho bài toán đánh thức nguồn lực đang hiện diện ở khắp năm châu.

©nhandan.vn

E-MAGAZINE